Está en la página 1de 5

THÔNG TIN DI ĐỘNG

Câu 1: Các chức năng chính của các phần tử trong phân hệ chuyển mạch của hệ
thống GSM:
+ MSC (Mobile services Switching Center): trung tâm chuyển mạch di động
• - Xử lý cuộc gọi (chuyển mạch, điều khiển & đăng ký)
• - Tương tác mạng (IWF): giao tiếp với PSTN, ISDN, PSPDN
• - Quản lý di động trên mạng vô tuyến và các mạng khác
• - Quản lý vô tuyến – chuyển giao giữa các BSC
• - Xử lý tính cước
+ VLR (Visitor Location Register): là cơ sở dữ liệu trung gian lưu trữ tạm thời thông tin về
thuê bao trong vùng phục vụ MSC/VLR được tham chiếu từ cơ sở dữ liệu HLR. Thông tin lưu
trữ trong VLR:
• - Các số nhận dạng IMSI, MSISDN, TMSI
• - Số hiệu nhận dạng vùng định vị đang phục vụ MS (LAI)
• - Danh sách dịch vụ MS được/hạn chế sử dụng
• - Trạng thái của MS (bận/rỗi)
+ HLR (Home Location Register): là cơ sở dữ liệu tham chiếu lưu giữ các thông tin lâu dài về
thuê bao. Thông tin lưu giữ trong HLR:
• - Các số nhận dạng IMSI, MSISDN
• - Các thông tin về thuê bao
• - Danh sách dịch vụ MS được/hạn chế sử dụng
• - Số hiệu VLR đang phục vụ MS

+ AuC (Authentication Center): là cơ sở dữ liệu lưu giữ khóa nhận dạng Ki¬ của các thuê bao
và tạo ra bộ 3 tham số nhận thực (RAND, SRES, Kc) khi HLR yêu cầu để tiến hạnh quá trình
nhận thực thuê bao
+ EIR (Equipment Identification Register): là cơ sở dữ liệu lưu giữ thông tin về tính hợp lệ
của thiết bị di động qua số IMEI. Các mức trạng thái có thể có:
• - Danh sách trắng: các đầu cuối được phép kết nối với mạng
• - Danh sách xám: các đầu cuối đặt dưới sự giám sát của mạng với những vấn đề có thể
xảy ra
• - Danh sách đen: đầu cuối không được phép kết nối với mạng (bị báo mất hay không
được duyệt với mạng GSM)
+ GMSC (Gateway MSC): định tuyến những cuộc gọi ra ngoài mạng và là điểm truy cập với
những cuộc gọi vào mạng từ bên ngoài (PSTN, PSPDN, ISDN). Việc lựa chọn những MSC
nào làm việc như những GMSC là do nhà điều hành mạng quy định.
Câu 2: Trong di động GSM, số kênh tần số được phép sử dụng rất ít so với tổng số
thuê bao trong mạng. Làm thế nào để không nghẽn mạch trên giao tiếp vô tuyến?
GSM sử dụng phương thức truyền song công phân chia theo tần số, các kênh vô tuyến của
hệ thống được ấn định nằm trong một băng tần giới hạn được cấp phát, do đó số kênh tần số
là giới hạn và rất ít so với tổng số thuê bao trong mạng. Chính vì thế mà việc sử dụng hiệu
quả băng tần được cấp phát để có thể phục vụ được một số lượng lớn thuê bao (và ngày càng
tăng) là một vấn đề cần được xem xét đến. Một số phương pháp được đưa ra để giải quyết vấn
đề này đó là:
- Sử dụng phương pháp đa truy nhập phân chia theo thời gian (TDMA) để tăng số lượng
thuê bao có thể phục vụ trong một kênh vô tuyến. Cụ thể mỗi kênh vô tuyến sẽ được chia
thành 8 khe thời gian (TS: Time Slot), mỗi khe thời gian có thể phục vụ cho 1 thuê bao, như
vậy số thuê bao được phục vụ sẽ tăng lên.
- Sử dụng lại tần số ở những khoảng cách đảm bảo tỷ số C/I không ảnh hưởng nhiều tới
chất lượng dịch vụ. Phương pháp này nhằm tăng hiệu suất sử dụng kênh vô tuyến, cùng một
kênh vô tuyến có thể được sử dụng ở những vị trí khác nhau miễn là nhiễu với kênh cùng tần
số đó được kiểm soát.
- Tùy theo nhu cầu dịch vụ ở những vùng khác nhau mà có sự điều chỉnh quy hoạch
thích hợp. Cụ thể, với những vùng có mật độ đông, nhu cầu sử dụng dịch vụ cao thì sẽ tăng
mật độ phân bố các trạm BTS (chia nhỏ vùng phục vụ, lắp thêm BTS nếu cần thiết kết hợp
với quy hoạch tần số thích hợp).
Câu 3:Trong di động Tổng đài quản lý vị trí của thuê bao dựa vào
-Location update:Cập nhật vị trí của MS (ở mode idle) khi MS di chuyển
-IMSI Attach/Detach: Cập nhật vị trí khi MS bật hay tắt
-Periodic registration: Cập nhật theo một khoảng thời gian định trước để đề phòng
trường hợp MS đi vào vùng không có song
Câu 4 : Khi MS đang ở chế độ đàm thoại và di chuyển sang BTS khác thì dựa vào
đâu nó có biết được đã thay đổi BTS.
Khi MS đang ở chế độ đàm thoại và di chuyển sang BTS khác sẽ dựa vào giao thức
handover (handover procedure) để biết có hay không việc thay đổi BTS nhằm duy trì tính liên
tục của cuộc gọi.Quá trình handover tiến hành như sau:
1/MS ở chế độ đàm thoại (dedicate mode) theo chu kì sẽ gửi các MR (Measurement
Reports) cho BTS thông qua kênh Uplink SACCH (480ms/lần nếu MS đang chiếm kênh
TCH,470ms/lần khi MS đang chiếm kênh SDCCH) .Có thể phân MR thành 2 loại:
-Uplink MR:được đo lường bởi BTS,cho biết thông tin về mức thu và chất lượng thu từ MS
-Dowlink MR:được đo lường bởi MS,cho biết mức thu,chất lượng thu,TA,kiểu công
suất,DTX,...của cell đang phục vụ (serving cell).Đồng thời MS sẽ đo lường công suất kênh
BCCH của các neighbor cell,chọn ra 6 neighbor cell có mức thu cao nhất và báo cáo về cho
BTS
2/Các MR sau đó được gửi cho BSC.Dựa vào các thông tin trên,BSC sẽ chạy thuật toán
Handover (HO Algorithm) để quyết định có thực hiện HO hay không.
3/Nếu phải HO,BSC sẽ gửi Handover Command cho MS.MS sẽ được hệ thống thiết lập
một kết nối mới sau khi giải tỏa kết nối cũ.
Tổng đài có biết được hướng di chuyển của MS hay không?Nếu có hãy giải thích.
Có trời mới biết MS muốn di chuyển hướng nào.Tổng đài chỉ có thể xác định vị trí của
MS mà thôi.
Câu 5. Điều khiển công suất là gì? Mục đích của điều khiển công suất. Trình bày
những cách điều khiển công suất trong di động và cho biết cách nào tối ưu hơn? Vì sao?
- Điều khiển công suất là quá trình điều chỉnh mức công suất phát của BTS và MS khi
MS di chuyển lại gần hay ra xa BTS
Với hệ thống GSM, BTS chỉ điều chỉnh công suất 1 lần khi cài đặt (do BTS chỉ quản lý 1
vùng cố định), còn MS phải thay đổi mức công suất phát của mình do sự thay đổi vị trí của nó
so với BTS.
- Mục đích của điều khiển công suất là cho phép chỉ cần phát với mức tín hiệu cần thiết
(thấp nhất có thể) mà vẫn duy trì được chất lượng cuộc đàm thoại. Lợi ích chính từ việc điều
chỉnh công suất là giảm nhiễu kênh vô tuyến với các thiết bị khác và tăng thời gian sử dụng
pin của MS.
- Những cách điều khiển công suất
(1) Điều khiển vòng hở: MS đo công suất mà nó nhận được từ BTS để tự điều chỉnh công suất
phát của nó. Dùng điều khiển ở cấp thô.
Ưu điểm: Đáp ứng nhanh
Nhược điểm: Không chính xác do:
(i) suy hao đường lên và đường xuống khác nhau;
(ii) công suất mà MS nhận được là tổng công suất của tất cả các BTS xung quanh.
(2) Điều khiển vòng đóng: BTS dựa vào công suất nhận được từ MS, kết hợp tính toán dựa
trên các thông số truyền sóng để quyết định mức công suất phát của MS. Dùng điều khiển ở
cấp tinh; kết hợp bổ sung cho kiểu điều chỉnh ở cấp thô ở cách 1.
Như vậy cách 2 sẽ tối ưu hơn do có sự tính toán tối ưu ở BSC.
Thực tế sử dụng kết hợp cả 2 cách vì lần đầu khi MS truy nhập mạng thì sử dụng vòng hở
(định mức công suất cần phát lên BTS lần đầu tiên), sau khi truy nhập mạng sử dụng vòng
đóng để có được mức công suất phát phù hợp nhất.
Điều khiển công suất trong hệ thống CDMA có gì khác biệt so với hệ thống GSM?
- Ngoài tiết kiệm công suất phát của BTS và MS, khác với GSM, điều khiển công suất
trong
CDMA còn phải điều chỉnh công suất phát của các MS sao cho các tín hiệu uplink đến BTS

mức công suất bằng nhau để giảm ảnh hưởng lẫn nhau giữa các kênh uplink của MS (hiệu
ứng
gần xa).
- Bước điều chỉnh công suất trong hệ thống GSM là 2dB, nhịp độ điều chỉnh là 60ms
(khoảng 16
lần mỗi s); trong CDMA, mỗi step điều chỉnh là 1dB, ở nhịp độ 1,25ms (800 lần mỗi s).
- Trong CDMA, BTS liên tục giảm dần công suất phát và khi FER bắt đầu tăng (tín hiệu
hồi tiếp từ
MS) thì BTS sẽ tăng công suất phát.
- Trong GSM, công suất phát của BTS thường được điều chỉnh trước ở một mức cố
định nào đó
chứ không điều chỉnh như trong CDMA.
Câu 6. So sánh kênh FACCH và SACCH?
1/Giống nhau:
-Cùng thuộc nhóm kênh DCCH (Dedicated control channel)
-Cùng thuộc loại bi-direction channel (thông tin cho cả uplink và downlink)
2/Khác nhau
-SACCH (Slow associated control channel) có thể dùng kết hợp với TCH hay SDCCH trong
một multi-frame
FACCH (Fast associated control channel) chỉ kết hợp với TCH (Chính xác là mượn bit TCH
khi cần)
-Sử dụng FACCH khi cần truyền tải thông tin nhanh hơn so với SACCH để tránh việc gián
đoạn liên lạc (ví dụ trong HO,một multi-frame 26 chỉ có một frame SACCH,do đó phải dùng
biến TCH thành FACCH để điều khiển HO)
-Uplink SACCH: truyền tải Measurement report
Downlink SACCH: truyền tải thông tin hệ thống (LAI,Cell ID,NCC,TA,mức công suất,...)
FACCH: Phân phát các bản tin HO và acknowledgement
Câu 7. Mạng di động Viettel được cấp phép sử dụng các kênh tần số từ 43 đến 82.
Hãy cho biết kênh tần số sử dụng cụ thể trên mỗi cell và số thuê bao có thể phục vụ đồng
thời trên mỗi BTS nếu:
a. Sử dụng lại tần số kiểu 3/9.
Mảng mẫu gồm 3 site (A, B, C), mỗi site gồm 3 cell-sector (1, 2, 3)
Kênh tần số sử dụng cụ thể trong mỗi cell như bảng dưới đây:
- Các cell A1, A2, B1, B2 sử dụng 5 kênh tần số --> số kênh logic của hệ thống là
5*8=40 kênh (40 khe thời gian - TS (TimeSlot))
Mỗi cell dành 1TS cho BCH 1TS cho SDCCH và 1TS cho GPRS (nếu cần) --> số TS dành
cho lưu lượng còn 40-3=37 TCH --> tức là có khả năng phục vụ đồng thời cho 37 thuê bao.
- Các cell còn lại sử dụng 4 kênh tần số. Tương tự ta tính được số kênh TCH là 4*8-
3=29 TCH --> phục vụ đồng thời cho 29 thuê bao.
BTS đặt trên site A hoặc B sử dụng cấu hình 5/5/4 --> số thuê bao phục vụ được đồng
thời trên các BTS này là: 2*37+29=103 thuê bao
BTS đặt trên site C sử dụng cấu hình 4/4/4 --> số thuê bao phục vụ được đồng thời trên
BTS này là: 3*29=81 thuê bao.
b. Sử dụng lại tần số kiểu 4/12.
Mảng mẫu gồm 4 site (A, B, C, D), mỗi site gồm 3 cell-sector (1, 2, 3)
Kênh tần số sử dụng cụ thể trong mỗi cell như bảng dưới đây:
BTS đặt ở các site sử dụng cùng 1 cấu hình là 4/3/3
Tính toán tương tự như trên, ta tính được số thuê bao phục vụ được đồng thời trên mỗi BTS
là: (4*8-3)+2*(3*8-3)=73 thuê bao.
Câu 8. Một BTS có cấu hình 5/5/5 thì đường truyền về BSC cần bao nhiêu E1? Giải
thích.
Ta biết luồng truyền dẫn là E1 (PCM30/32, 2048 kbps) tiêu chuẩn, mỗi một trong 30 TS
truyền tín hiệu thoại tải 4 kênh thoại số, mỗi kênh có tốc độ 16 kbps (là tín hiệu thoại được số
hóa bằng LPC vocoder kiểu RPE-LTP), tức là 1 luồng E1 có thể truyền được tối đa 120 kênh
thoại số GSM.
Với BTS cấu hình 5/5/5, tính toán tương thự như ở câu 7 ta tính được số kênh TCH là:
3*(5*8-3)=111 TCH, như vậy chỉ cần 1 luồng E1 để truyền về BSC là đủ!
Câu 9 : tại sao MS phát ở tần thấp , thu ở tần cao :
Suy hao (hay tổn hao) là một hàm phụ thuộc tần số. Tần số càng cao thì suy hao càng
lớn. Máy di động có công suất phát nhỏ và nếu có công suất lớn thì lại ngốn pin nhiều hơn, do
vậy trong thông tin di động đường lên luôn ở băng thấp để tiêu hao nhỏ hơn, đỡ yêu cầu về
công suất phát của máy di động, còn đường xuống luôn ở băng cao (máy phát trạm gốc dễ bảo
đảm công suất phát lớn hơn và cấp nguồn dễ hơn). Ngoài ra, tần số càng cao, bước sóng càng
nhỏ, tín hiệu càng dễ bị che chắn hơn, do đó nếu đường lên có tần số thấp (bước sóng lớn) thì
tín hiệu ít bị che chắn hơn một chút.
Trong thông tin vệ tinh lại ngược lại, đường lên lại chọn băng cao vì trạm phát mặt đất
có thể bảo đảm công suất lớn dễ dàng hơn là transponder trên vệ tinh (transponder có công
suất càng lớn thì: a) càng nặng hơn và do đó chi phí phóng vệ tinh càng tốn hơn; b) nguồn
điện trên vệ tinh cung cấp từ solar array hạn chế hơn; c) transponder càng nặng thì càng tốn
nhiên liệu để điều chỉnh quỹ đạo khi vệ tinh hạ thấp độ cao do ma sát với không khí dù rất
loãng trên quỹ đạo 36 000 km, do vậy với cùng một khối lượng nhiên liệu ban đầu thì thời
gian sống của vệ tinh sẽ ngắn hơn, hoặc nếu muốn duy trì thời gian sống lâu hơn thì phải đưa
lên quỹ đạo lượng nhiên liệu lớn hơn, cái này lại làm vệ tinh nặng hơn và do đó chi phí phóng
lại đội lên nữa).