Está en la página 1de 54

Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

UTRA
8.1 Giới thiệu
Giao diện vô tuyến IMT-2000 đối với đa truy nhập phân chia theo mã dãy
trực tiếp được gọi là truy nhập vô tuyến mặt đất vạn năng (UTRA) hoặc
CDMA băng rộng (WCDMA). Nó có 2 phương thức hoạt động: song công
phân chia theo tần số (FDD) và song công phân chia theo thời gian (TDD).
Các đặc tả giao diện vô tuyến đối với cả hai UTRA FDD và UTRA TDD đã
được phát triển với sự nhấn mạnh mục tiêu hài hòa 2 thành phần này nhằm
đạt được sự phổ biến tối đa. Trong trường hợp này, các tham số vật lí quan
trọng và các giao thức lớp cao là chung cho cả 2 công nghệ. Các đặc tả mạng
lõi (CN) được dựa trên sự phát triển của GSM-MAP và các khả năng được
đưa vào sao cho sự hoạt động với CN dựa trên ANSI-41 cải biên là có thể
thực hiện được. Các giao diện vô tuyến được xác định sao cho nhiều loại
dịch vụ bao gồm tiếng nói, dữ liệu và đa phương tiện có thể đồng thời được
sử dụng bởi thuê bao và được ghép trên một sóng mang. Do đó các dịch vụ
chuyển mạch kênh (ví dụ mạng dựa trên PSTN và ISDN) và các dịch vụ
chuyển mạch gói (mạng dựa trên IP) đều được hỗ trợ một cách hiệu quả; các
hoạt động thời gian thực và thời gian không thực sử dụng truyền tải dữ liệu
trong suốt hoặc không trong suốt được xác định. Chất lượng dịch vụ (QoS)
là đặc điểm quan trọng và được xác định phải được điều chỉnh trên cơ sở các
tham số như là độ trễ, tỉ lệ lỗi bít, tỉ lệ lỗi khung và những cái khác. Mặc dù
các thành phần FDD và TDD đã được thiết kế để đạt được sự phổ biến cực
đại, một số sự khác nhau cơ bản giữa chúng vẫn tồn tại. Một trong số đó liên
quan đến phân tập macro áp dụng cho các trường hợp chuyển giao mềm.
Trong khi điều này là đặc điểm cố hữu của UTRA FDD, thì phân tập macro
là không cần thiết trong UTRA TDD do có thành phần TDMA.
Trong UTRA FDD thông tin được trải trên dải thông xấp xỉ 5 MHz với tốc
độ chíp 3.84 Mchip/s. Trong UTRA TDD, 2 tùy chọn được xác định. Trong
1 tùy chọn, thông tin được trải trên dải thông xấp xỉ 5 MHz với tốc độ chíp
3.84 MHz. Trong tùy chọn kia, thông tin được trải trên dải thông xấp xỉ 1.6
MHz với tốc độ chíp 1.28 Mchip/s và tùy chọn này chủ yếu dựa trên công
nghệ an ten thông minh. Tùy chọn 1 được gọi đơn giản là UTRA TDD, còn
tùy chọn 2 được gọi là đa truy nhập phân chia theo mã đồng bộ - phân chia
thời gian (TD-SCDMA) hoặc TDD 1.28 Mchip/s. Ở đây dùng kí hiệu UTRA
TDD-3.84 cho tùy chọn 1 và UTRA TDD-1.28 cho tùy chọn 2. Sự tích hợp
thiết bị người dùng, UTRA và CN dẫn đến hệ thống 3G gọi là hệ thống viễn
thông di động vạn năng (UMTS). Chương này chủ yếu đề cập đến thành

1
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

phần UTRA của hệ thống UMTS.


8.2 Cấu trúc mạng
Cấu trúc tổng thể của UMTS được cho trên hình 8.1. Theo các đặc tả của
IMT-2000, ba khối cơ bản tạo thành UMTS là: thiết bị người dùng (UE);
mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS (UTRAN) và mạng lõi (CN). Các
phần tử này được đấu nối với nhau và với các mạng ngoài khi cần thiết.
• Thiết bị người dùng. UE cung cấp phương tiện để người dùng truy
nhập vào hệ thống. Nó gồm thiết bị di động (ME) và modul nhận dạng
thuê bao UMTS (USIM):
Thiết bị di động. ME là thiết bị đầu cuối vô tuyến thực hiện các chức
năng hỗ trợ truy nhập vô tuyến di động vào hệ thống.
Modul nhận dạng thuê bao UMTS. USIM là thẻ thông minh thực hiện
các chức năng hỗ trợ an ninh và các dịch vụ người dùng. Nó lưu giữ
số nhận dạng thuê bao và 1 số thông tin đăng kí, thực hiện các thủ tục
nhận thực, lưu giữ các chìa khóa nhận thực và mật hóa.
• Mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS. UMTS thực hiện các chức
năng hỗ trợ liên lạc với MT và với CN. Nó cung cấp phương tiện để
trao đổi thông tin giữa MT và CN, hoạt động như cầu, bộ định tuyến
hoặc cửa ngõ theo yêu cầu. Nó gồm một tập các phân hệ mạng vô
tuyến (RNS), mỗi phân hệ bao gồm bộ điều khiển mạng vô tuyến
(RNC) và 1 hoặc nhiều thực thể gọi là nút B:
Nút B. Nút B là thực thể hỗ trợ thu phát tần số vô tuyến và quảng bá
thông tin truy nhập hệ thống. Nó thực hiện mã hóa kênh và xen kẽ,
thích nghi tốc độ, trải phổ, quản lí tài nguyên vô tuyến như trong điều
khiển công suất vòng trong và những chức năng khác. Về logic nút B
tương ứng với thực thể đã biết rõ là trạm gốc. Một nút B có thể quản lí
một tế bào hoặc nhiều hơn (biểu diễn như hình elip trong hình 8.1).
Bất cứ khi nào được áp dụng, nút B có thể bao gồm các chức năng kết
hợp hoặc chia tách tùy chọn để hỗ trợ phân tập macro ngay trong nút
B.
Bộ điều khiển mạng vô tuyến. RNC hỗ trợ điều khiển truy nhập vô
tuyến, điều khiển kết nối, định vị địa lí và chuyển tiếp kết nối truy
nhập. Nó sở hữu và điều khiển các tài nguyên vô tuyến trong miền của
nó, tạo thành điểm truy nhập dịch vụ cho tất cả các dịch vụ mà
UTRAN cung cấp cho CN. Về logic nó tương ứng với thực thể đã biết
rõ là BSC. RNC điều khiển một nút B được gọi là RNC điều khiển
(CRNC). Trong trường hợp như vậy, CRNC chịu trách nhiệm điều
khiển tải và điều khiển tắc nghẽn của chính các tế bào của nó, thực
hiện việc điều khiển quản trị và phân bổ mã cho các liên kết vô tuyến
mới được xác lập trong các tế bào này. Trong trường hợp kết nối giữa

2
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

1 UE và UTRAN chứa đựng các tài nguyên từ nhiều hơn một RNS (ví
dụ khi chuyển giao mềm), các RNC tham gia trong quá trình sẽ có vai
trò logic khác nhau đối với kết nối này. Một trong chúng sẽ hoạt động
như RNC phục vụ (SRNC), còn những RNC khác hoạt động như
RNC thụ động (DRNC). SRNC kết thúc liên kết đối với việc chuyên
chở dữ liệu người dùng, báo hiệu phần ứng dụng mạng truy nhập vô
tuyến tương ứng và giao thức báo hiệu giữa UE và UTRAN. Những
nhiệm vụ thực hiện bởi SRNC bao gồm ánh xạ các tham số mang truy
nhập vô tuyến lên các tham số kênh vận tải của giao diện vô tuyến,
quyết định chuyển giao, điều khiển công suất vòng ngoài và tất cả các
thao tác quản lí tài nguyên vô tuyến cơ bản. SRNC có thể phục vụ như
CRNC của một số nút B. Chú ý rằng chỉ một SRNC được gán cho
một kết nối. DRNC là RNC điều khiển các tế bào được sử dụng bởi
thuê bao (chứ không phải SRNC). Bất cứ khi nào áp dụng được,
DRNC có thể bao gồm các chức năng kết hợp và chia tách tùy chọn
để hỗ trợ phân tập macro giữa các nút B khác nhau. Nó hoạt động như
bộ chuyển tiếp giữa nút B và SRNC bất cứ khi nào thích hợp. Một UE
có thể không có DRNC hoặc có nhiều DRNC. Một RNC vật lí có thể
chứa các chức năng của CRNC, SRNC và DRNC.
• Mạng lõi. CN thực hiện các chức năng hỗ trợ liên lạc với UTRAN và
với các CN khác. Nó cung cấp phương tiện để hỗ trợ tính di động
người dùng và các dịch vụ người dùng. Một vài phần tử có thể tạo nên
CN. Cụ thể, các phần tử dùng cho các dịch vụ chuyển mạch kênh là
các phần tử của hệ thống 2G, trong khi đó các phần tử dùng cho dịch
vụ chuyển mạch gói là các phần tử của công nghệ GPRS. Tuy nhiên
các phần tử cơ bản của CN là MSC/VLR, HLR, GMSC, nút hỗ trợ
dịch vụ GPRS (SGSN), nút hỗ trợ GPRS cửa ngõ (GGSN). Các phần
tử của mạng thông minh (IN) cũng là bộ phận của CN, nhưng không
xét ở đây.
MSC/VLR. MSC thực hiện các chức năng chuyển mạch và phối hợp các
cuộc gọi và các thủ tục định tuyến trong mạng. VLR là cơ sở dữ liệu
chứa đựng bản sao của hồ sơ dịch vụ của thuê bao tạm trú cũng như
thông tin về vị trí của thuê bao trong hệ thống. Sự kết hợp MSC/VLR
phục vụ UE tại vị trí hiện thời của nó đối với các dịch vụ chuyển mạch
kênh.

3
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Hình .....
HLR. HLR là cơ sở dữ liệu trong hệ thống chủ và chứa đựng danh sách các
thuê bao chủ cùng với các hồ sơ dịch vụ của họ. Trong HLR, các thuê bao
này được liên kết với các bản ghi thông tin liên quan với quản lí cuộc gọi.
Cả dữ liệu cố định và tạm thời đều được giữ trong HLR, trong đó dữ liệu cố
định chỉ bị thay đổi vì những lí do quản trị và được giữ cho mỗi cuộc gọi,
còn dữ liệu tạm thời thay đổi theo tình trạng nhất thời của các tham số thuê
bao và có thể thay đổi từ cuộc gọi này sang cuộc gọi khác. HLR cũng lưu trữ
vị trí UE để phục vụ cho mục đích định tuyến các giao dịch đến (cuộc gọi,
nhắn tin) UE.
GMSC. GMSC hỗ trợ điều khiển cuộc gọi, điều khiển kết nối và chuyển
mạch dịch vụ. GMSC được dùng để liên lạc với HLR để có thông tin định
tuyến sao cho cuộc gọi có thể định tuyến đến MSC tạm trú tương ứng hoặc
mạng chuyển mạch kênh bên ngoài. Các kết nối chuyển mạch kênh đến và đi
đều được phục vụ bởi GMSC.

4
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Nút hỗ trợ dịch vụ GPRS. SGSN hoạt động như giao diện logic với UTRAN,
chịu trách nhiệm chuyển giao các gói đến nút B chính xác. Ngoài ra, mật
hóa, nhận thực, quản lí phiên, quản lí di động và quản lí liên kết logic tới
máy di động đều được thực hiện bởi SGSN. Các chức năng của nó tương tự
như của MSC/VLR nhưng chỉ đối với các dịch vụ gói.
Nút hỗ trợ GPRS cửa ngõ. GGSN hoạt động như giao diện logic đối với
mạng dữ liệu gói bên ngoài (PDN), gồm PDN IP hoặc PDN chuyển mạch
gói X.25/X.75. Đối với mạng IP bên ngoài, GGSN được coi là định tuyến IP
thông thường. Ngoài ra nó có thể bao gồm các cơ chế lọc gói và tường lửa.
Nó cũng cung cấp phương tiện gán SGSN chính xác cho UE tùy thuộc vào
vị trí của nó. Các chức năng của nó tương tự như của GMSC nhưng chỉ đối
với dịch vụ gói.
Như chỉ ra trong hình 8.1, các kết nối đến mạng ngoài bao gồm kết nối với
dịch vụ chuyển mạch kênh như là PLMN, PSTN, ISDN và các kết nối với
dịch vụ chuyển mạch gói như là Internet. Các chức năng bên trong của các
phần tử mạng logic UMTS không được chỉ định chi tiết. Mặt khác, các giao
diện khác nhau giữa các phần tử này được xác định; các giao diện mở chính
là giao diện Cu, Uu, Iu, Iur và Iub. Các giao diện mở cho phép các nhà khai
thác thiết lập thiết bị của họ với các phần tử từ các nhà sản xuất khác nhau.
• Giao diện Cu. Đây là giao diện giữa USIM và ME và được xác định
trên cơ sở các đặc tả vật lí bao gồm kích thước, tiếp điểm, chỉ tiêu
điện, giao thức và những cái khác. Giao diện này tuân theo định dạng
tiêu chuẩn đối với các thẻ thông minh.
• Giao diện Uu. Đây là giao diện vô tuyến giữa ME và UTRAN, sẽ là
đối tượng chính của chương này.
• Giao diện Iu. Đây là giao diện giữa UTRAN và CN, tồn tại trong hai
trường hợp. Cụ thể là chuyển mạch kênh Iu (Iu CS) và chuyển mạch
gói Iu (Iu PS). Iu CS nối UTRAN đến miền chuyển mạch kênh của
CN, còn Iu PS nối UTRAN đến miền chuyển mạch gói của CN. Một
số chức năng hỗ trợ bởi Iu là:
- Di chuyển chức năng SRNS từ 1 RNS đến RNS khác mà không làm
thay đổi các tài nguyên vô tuyến và không làm gián đoạn luồng dữ
liệu người dùng.
- Di chuyển chức năng SRNS từ một RNS sang RNS khác có thay đổi
tài nguyên vô tuyến nhằm phục vụ mục đích chuyển giao cứng.
- Thiết lập, cải biên và xóa bearer truy nhập vô tuyến
- Giải phóng tất cả các tài nguyên từ instance Iu đã cho, liên quan đến
UE cụ thể. Việc này bao gồm trường hợp khởi xướng bởi RAN
- Báo các các dữ liệu phát đi không thành công
- Tìm gọi

5
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

- Quản lí các hoạt động liên quan đến kết nối UE-UTRAN cụ thể
- Chuyển giao trong suốt các thông báo báo hiệu UE-CN
- Thực hiện việc mật hóa hoặcc tích hợp đối với bất kì chuyển giao dữ
liệu cho trước
- Quản lí quá tải
- Reset phía UTRAN và/hoặc phía CN của Iu
- Báo cáo vị trí của UE
- Tạo khung dữ liệu thành các đoạn có kích cỡ định trước thành các
khung tiếng nói codec đa tốc độ thích nghi hoặc thành các kích cỡ
khung nhận được từ tốc độ dữ liệu của cuộc gọi chuyển mạch kênh
• Giao diện Iur. Đây là giao diện giữa các RNC của các RNS khác
nhau. Nó có thể được chuyên chở trên kết nối vật lí trực tiếp giữa các
RNC hoặc qua mạng chuyên chở thích hợp bất kì. Iur ban đầu được
thiết kế để hỗ trợ chuyển giao mềm liên RNC. Tuy nhiên nhiều đặc
điểm nữa đã được bổ sung và 4 chức năng khác nhau được cung cấp.
Các chức năng này được xác định trên cơ sở 4 modul như sau: hỗ trợ
di động liên RNC cơ bản (Iur1); hỗ trợ lưu lượng kênh dành riêng
(Iur2); hỗ trợ lưu lượng kênh chung (Iur3); và hỗ trợ quản lí tài
nguyên toàn cầu (Iur4).
Iur1. Các chức năng được cung cấp trong Iur1 bao gồm hỗ trợ di
chuyển SRNC; hỗ trợ cập nhật tế bào liên RNC và vùng đăng kí
UTRAN; hỗ trợ tìm gọi gói liên RNC và báo cáo các lỗi giao thức.
Iur2. Các chức năng được cung cấp trong Iur2 bao gồm thiết lập, cải
biên và giải phóng kênh dành riêng trong DRNC do chuyển giao cứng
và chuyển giao mềm trong trạng thái kênh dành riêng; thiết lập và giải
phóng các kết nối vận tải dành riêng trên trên Iur; chuyển giao các
khối vận tải lưu lượng kênh dành riêng giữa SRNC và DRNC; quản lí
các liên kết vô tuyến trong DRNS qua báo cáo đo lường dành riêng và
các thủ tục thiết lập công suất.
Iur3. Các chức năng được cung cấp trong Iur3 bao gồm thiết lập và
giải phóng kết nối vận tải trên Iur để phân tách các luồng dữ liệu kênh
chung của lớp MAC giữa SRNC và DRNC; điều khiển luồng giữa các
lớp MAC riêng biệt.
Iur4. Các chức năng được cung cấp trong Iur4 bao gồm chuyển giao
các đo lường tế bào giữa 2 RNC; chuyển giao thông tin định thời nút
B giữa 2 RNC.
• Giao diện Iub. Đây là giao diện giữa nút B và RNC. Giao diện này hỗ
trợ tất cả các thủ tục vận hành logic và bảo dưỡng (O&M) của nút B,
như là cấu hình và quản lí lỗi. Nó cũng hỗ trợ tất cả các báo hiệu qua
các cổng điều khiển dành riêng để xử lí ngữ cảnh của UE đã cho, sau

6
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

khi liên kết vô tuyến đã được thiết lập cho UE này. Cụ thể hơn, các
chức năng sau đây được thực hiện: thiết lập liên kết vô tuyến đầu tiên
cho 1 UE, cấu hình tế bào, khởi xướng và báo cáo kết quả đo lường
của tế bào hoặc của nút B; quản lí lỗi, xử lí các kênh truy nhập và
kênh tìm gọi; bổ xung, giải phóng và cấu hình các liên kết vô tuyến
cho 1 ngữ cảnh UE; xử lí các kênh dành riêng và kênh chia sẻ; xử lí
việc kết hợp mềm; khởi xướng và báo cáo các kết quả đo lường liên
kết vô tuyến cụ thể; quản lí lỗi liên kết vô tuyến.
8.3 Kiến trúc nghi thức
Mô hình nghi thức tổng quát vẽ trên hình 8.2 được xác định đối với tất cả
các giao diện mặt đất UTRAN. Kiến trúc nghi thức bao gồm các lớp và các
mặt phẳng độc lập với nhau về mặt logic. Cụ thể hai lớp chính là lớp mạng
vô tuyến (RNL) và lớp mạng chuyên chở (TNL). RNL chứa tất cả các bộ
phận liên quan đến UTRAN nhìn thấy được, còn TNL bao gồm công nghệ
chuyên chở tiêu chuẩn được chọn sử dụng cho UTRAN. Bốn mặt phẳng
được xác định là: mặt phẳng điều khiển (CP), mặt phẳng người dùng (UP),
mặt phẳng điều khiển mạng chuyên chở (TNCP) và mặt phẳng người dùng
mạng chuyên chở (TNUP).
CP chịu trách nhiệm về toàn bộ báo hiệu điều khiển đặc trưng của UMTS,
bao gồm nghi thức ứng dụng và mang báo hiệu. UP chịu trách nhiệm thu
phát các thông tin liên quan đến người dùng như là thoại đã mã trong cuộc
gọi thoại, hoặc gói trong kết nối Internet. TNCP thực hiện các chức năng
liên quan đến báo hiệu điều khiển trong TNL, với các giao dịch tương ứng
được tiến hành giữa CP và UP. Nó cách li CP khỏi UP để liên lạc giữa nghi
thức ứng dụng trong CP và mang dữ liệu trong UP được hòa giải bởi phần
ứng dụng điều khiển liên kết truy nhập (ALCAP) trong TNCP. ALCAP là
riêng cho công nghệ UP cụ thể. Trong trường hợp như vậy, nghi thức ứng
dụng có thể độc lập hoàn toàn với công nghệ được chọn cho mang dữ liệu.

7
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

TNUP chịu trách nhiệm chuyên chở các báo hiệu và thông tin liên quan đến
người dùng bao gồm mang dữ liệu trong UP và mang báo hiệu trong CP.
8.4 Kiến trúc nghi thức giao diện vô tuyến
Việc xử lí các dịch vụ mang vô tuyến được thực hiện bởi các nghi thức của
giao diện vô tuyến. Kiến trúc giao diện vô tuyến cơ bản bao gồm các khối và
các nghi thức thấy được trong UTRAN được minh họa trong hình 8.3. Chỉ
có 3 lớp đáng quan tâm là: lớp 3 – lớp mạng, được biểu diễn bởi lớp con
thấp nhất của nó; lớp 2 – lớp liên kết dữ liệu; và lớp 1 – lớp vật lí. Các khối
trên hình 8.3 biểu diễn các instances của nghi thức tương ứng và liên lạc
ngang hàng được cung cấp bởi các điểm truy nhập dịch vụ (SAP); một số
được cho trong hình ở dạng elip.
Lớp 3 không chứa phần tử nào trong giao diện vô tuyến đối với UP. Mặt
khác, trong CP của mình nó chứa đựng điều khiển tài nguyên vô tuyến
(RRC). RRC đóng gói các báo hiệu lớp cao (quản lí di động, điều khiển cuộc
gọi, quản lí phiên) thành các thông báo RRC để phát đi trên giao diện vô
tuyến. Các giao diện điều khiển giữa RRC và các lớp dưới được dùng để
mang thông tin và các lệnh thực hiện cấu hình của các thực thể nghi thức lớp
dưới (kênh logic, kênh vận chuyển, kênh vật lí), các đo lường, báo cáo kết
quả đo lường.
Lớp 2 được chia thành vài lớp con như là nghi thức hội tụ dữ liệu gói
(PDCP), điều khiển quảng bá/phát đồng loạt (BMC), điều khiển liên kết vô
tuyến (RLC) và điều khiển truy nhập môi trường (MAC). BMC được dùng
để mang các thông báo xuất phát từ trung tâm quảng bá tế bào. PDCP chịu
trách nhiệm nén tiêu đề và là riêng cho chuyển mạch gói. RLC cung cấp các
dịch vụ cho RRC. MAC cung cấp dịch vụ cho RLC nhờ các SAP.

8
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Các SAP chính trong hình 8.3 là các kênh logic, kênh vận chuyển, và kênh
vật lí. Các kênh logic tạo thành các SAP giữa RLC và MAC và được đặc
trưng bởi loại thông tin được chuyển giao. Chúng được nhóm thành các
kênh điều khiển và các kênh lưu lượng. Các kênh vận chuyển tạo thành các
SAP giữa MAC và PHY và được đặc trưng bởi việc thông tin được chuyển
giao như thế nào trên giao diện vô tuyến. Các SAP được tạo ra bởi PHY là
các kênh vật lí được truyền trên giao diện vô tuyến. Chúng có thể được xác
định trên cơ sở tần số mang, mã xáo trộn, mã phân kênh, pha tương đối, khe
thời gian, khung và đa khung.
Hình 8.4 minh họa làm thế nào các đơn vị dữ liệu dịch vụ lớp cao (SDU) và
các đơn vị dữ liệu nghi thức (PDU) được phân đoạn và ghép thành các khối
vận tải từ lớp 3 qua lớp 2 rồi được xử lí bởi lớp 1.
8.5 Các kênh logic
Các kênh logic là các SAP nằm giữa RLC và MAC. Chúng cung cấp các
dịch vụ chuyển giao dữ liệu giữa các thực thể này. Kênh logic được đặc
trưng bởi loại thông tin mà nó mang. Nói chung các kênh này có thể nhóm
lại thành các kênh điều khiển và các kênh lưu lượng. Các kênh logic nhóm 1
được dùng để mang thông tin CP, còn các kênh nhóm 2 dùng để mang thông
tin UP.
Nhóm kênh logic điều khiển gồm các kênh sau:
• Kênh điều khiển quảng bá (BCCH). BCCH là kênh đường xuống
dùng để phát quảng bá thông tin điều khiển hệ thống.
• Kênh điều khiển chung (CCCH). CCCH là kênh hai hướng dùng để
mang thông tin điều khiển giữa mạng và các UE.
• Kênh điều khiển dành riêng (DCCH). DCCH là kênh hai hướng điểm
– điểm dùng để mang thông tin điều khiển dành riêng giữa mạng và
UE. Kênh này được thiết lập trong thủ tục thiết lập kết nối RRC.
• Kênh điều khiển tìm gọi (PCCH). PCCH là kênh đường xuống dùng
để phát các thông tin tìm gọi.
Nhóm kênh logic lưu lượng gồm các kênh sau:
• Kênh lưu lượng điều khiển (CTCH). CTCH là kênh đơn hướng điểm-
đa điểm dùng để mạng thông tin người dùng dành riêng cho tất cả UE
hoặc cho nhóm đặc biệt các UE.
• Kênh lưu lượng dành riêng (DTCH). DTCH là kênh điểm – điểm có
thể xuất hiện cả trong đường lên và đường xuống và được dùng để
mang thông tin đến một UE.
• Kênh điều khiển chia sẻ kênh (SHCCH) – chỉ UTRA TDD. SHCCH là
kênh hai hướng dùng để mang thông tin đến và từ các kênh vận tải
chia sẻ.

9
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

8.6 Các kênh vận tải và các chỉ thị


Các kênh vận tải là các SAP nằm giữa MAC và PHY. Chúng cung cấp các
dịch vụ chuyển giao dữ liệu giữa hai thực thể này. Kênh vận tải được đặc
trưng bởi việc thông tin được chuyển giao như thế nào trên giao diện vô
tuyến và bởi loại thông tin mà nó mang. Nói chung, các kênh này có thể
nhóm thành các kênh chung và các kênh dành riêng. Kênh vận chuyển của
nhóm 1 được chia sẻ bởi tất cả UE hoặc bởi nhóm UE và chứa trường địa
chỉ với mục đích phân biệt địa chỉ. Kênh vận tải của nhóm 2 được dùng bởi
một UE và được xác định bởi kênh vật lí; do đó không cần địa chỉ cụ thể cho
UE.
Nhóm kênh chung gồm các kênh vận tải sau đây:
• Kênh quảng bá (BCH). BCH là kênh vận tải đường xuống dùng để
quảng bá thông tin hệ thống và thông tin riêng của tế bào. Bình
thường BCH mang thông tin như là các mã truy nhập ngẫu nhiên
hiện có, các khe truy nhập có sẵn, loại phân tập phát v.v. BCH
được phát trên toàn bộ tế bào.
• Kênh truy nhập đường xuống (FACH). FACH là kênh vận tải
đường xuống được dùng để mang thông tin điều khiển đến UE có
vị trí được hệ thống biết trước. FACH cũng có thể mang dữ liệu
gói ngắn. Có thể tồn tại một hoặc nhiều FACH trong tế bào, một
trong chúng có tốc độ bít đủ thấp để tất cả các UE có thể phát hiện
được. FACH không sử dụng cơ chế điều khiển công suất nhanh.
Thông tin nhận dạng trong băng được đưa vào để bảo đảm thu
chính xác thông báo.

10
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

11
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Kênh tìm gọi (PCH). PCH là kênh vận tải đường xuống dùng để
mang thông tin điều khiển liên quan đến thủ tục tìm gọi. Thông
báo tìm gọi có thể tới 1 hoặc hơn (đến vài trăm tế bào) các tế bào,
tùy thuộc vào cấu hình hệ thống.
• Kênh truy nhập ngẫu nhiên (RACH). RACH là kênh vận tải đường
lên dùng để mang thông tin điều khiển từ UE đến mạng, thường là
đối với các mục đích truy nhập ngẫu nhiên (yêu cầu thiết lập kết
nối). Nó cũng có thể sử dụng để mang dữ liệu gói ngắn từ UE với
các thông báo không dài hơn 1 hoặc 2 khung.
• Kênh gói chung (CPCH) – UTRA FDD. CPCH là kênh vận tải
đường lên dùng để mang dữ liệu gói từ ngắn đến trung bình từ UE.
Thực ra đây là sự mở rộng của RACH; sự khác nhau cơ bản là việc
sử dụng các cơ chế điều khiển công suất nhanh. Thời gian phát dài
hơn (vài khung) và trạng thái kênh được theo dõi để phát hiện va
chạm.
• Kênh chia sẻ đường xuống (DSCH). DSCH là kênh vận tải chia sẻ
đường xuống dùng để mang dữ liệu người dùng dành riêng và
thông tin điều khiển đến vài người dùng. Về nhiều khía cạnh
DSCH giống với FACH; khác nhau chính là việc sử dụng điều
khiển công suất nhanh cũng như tốc độ bít thay đổi trên cơ sở từng

12
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

khung. Không cần thiết phải thu được nó trong toàn bộ diện tích tế
bào. Nó có thể sử dụng các phương thức phân tập an ten phát khác
nhau và đi kèm với kênh dành riêng đường xuống.
• Kênh chia sẻ đường lên (USCH) – UTRA TDD. USCH là kênh
vận tải chia sẻ đường lên dùng để mang dữ liệu người dùng dành
riêng và thông tin điều khiển từ vài người dùng. Thực ra nó là sự
mở rộng của RACH, khác nhau chính là sử dụng điều khiển công
suất nhanh, thời gian phát dài hơn (vài khung) và trạng thái kênh
được theo dõi để phát hiện va chạm.
Nhóm kênh vận tải dành riêng bao gồm:
Kênh dành riêng (DCH). DCH là kênh vận tải duy nhất trong nhóm
kênh dành riêng. Nó là kênh vận tải đường lên hoặc đường xuống mang
thông tin người dùng và thông tin điều khiển. Chú ý rằng trái với các hệ
thống 2G trong đó 2 loại thông tin này được mang bởi các kênh khác
nhau (kênh lưu lượng và kênh điều khiển liên kết), DCH mang cả hai
dữ liệu dịch vụ (ví dụ các khung tiếng nói) và thông tin điều khiển lớp
cao (ví dụ các lệnh chuyển vùng, các báo cáo đo lường). Điều này được
thực hiện bởi vì tốc độ bít thay đổi và ghép dịch vụ được hỗ trợ. DCH
hỗ trợ điều khiển công suất nhanh, tốc độ dữ liệu nhanh thay đổi trên cơ
sở từng khung, truyền dẫn đến vị trí cụ thể trong tế bào bằng cách dùng
an ten thích nghi và chuyển giao mềm (UTRA FDD).
Mặt khác các bộ chỉ thị là các thực thể báo hiệu mức thấp không dùng
các khối thông tin của các kênh vận tải. Chúng thuộc loại Boolean hoặc
3-trị và được phát trực tiếp trên các kênh vật lí gọi là kênh chỉ thị. Sau
đây là các chỉ thị đặc biệt: chỉ thị bắt (AI), chỉ thị mào đầu truy nhập
(API), chỉ thị gán kênh (CAI), chỉ thị phát hiện va chạm (CDI), chỉ thị
tìm gọi (PI) và chỉ thị tình trạng (SI).
8.7 Các kênh vật lí và các tín hiệu vật lí
Có thể xác định các kênh vật lí trên cơ sở tần số sóng mang, mã xáo trộn, mã
phân kênh, pha tương đối, khe thời gian, khung con, khung và đa khung.
Mặt khác các tín hiệu vật lí là các thực thể với cùng các thuộc tính cơ bản
như các kênh vật lí nhưng không có các kênh vận tải hoặc các chỉ thị ánh xạ
lên chúng. Chúng có thể liên kết với các kênh vật lí để hỗ trợ các chức năng
của các kênh này. Phần này mô tả vắn tắt các chức năng của kênh vật lí, chi
tiết về cấu trúc của chúng và các chức năng đặc biệt sẽ xét trong mục sau.
8.7.1 Các kênh vật lí UTRA FDD
Sau đây là các kênh vật lí của UTRA FDD:
• Kênh dẫn đường chung (CPICH). Đây là kênh vật lí đường xuống –
kênh mã không điều chế - dùng làm chuẩn pha cho các kênh vật lí
đường xuống khác.

13
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Kênh đồng bộ (SCH). Đây là kênh vật lí đường xuống dùng để tìm
kiếm tế bào.
• Kênh vật lí điều khiển chung sơ cấp (P-CCPCH). Đây là kênh vật lí
đường xuống mang thông tin điều khiển với tốc độ 30 kbit/s (tốc độ
bít không đổi).
• Kênh vật lí điều khiển chung thứ cấp (S-CCPCH). Đây là kênh vật lí
đường xuống mang thông tin điều khiển với tốc độ bít thay đổi.
• Kênh chỉ thị bắt (AICH). Đây là kênh vật lí đường xuống dùng để
mang chỉ thị bắt phục vụ cho mục đích truy nhập ngẫu nhiên. Nó dùng
để chỉ thị thu tại trạm gốc về dãy chữ kí kênh truy nhập ngẫu nhiên.
• Kênh chỉ thị tìm gọi (PICH). Đây là kênh vật lí đường xuống dùng để
mang chỉ thị tìm gọi để chỉ sự có mặt của thông báo tìm gọi trên PCH.
• Kênh chia sẻ đường xuống vật lí (PDSCH). Đây là kênh vật lí đường
xuống dùng để mang dữ liệu và thông tin điều khiển trên cơ sở chung.
Nó được dùng cùng với kênh dành riêng đường xuống (DCH đường
xuống) trên đó thông tin cần thiết để giải mã PDSCH được mang đến
UE.
• Kênh chỉ thị bắt mào đầu truy nhập (AP-AICH), Kênh chỉ thị gán
kênh/Phát hiện va chạm (CD/CA-ICH), Kênh chỉ thị tình trạng
(CSICH). Đây là các kênh vật lí đường xuống dùng cho thủ tục kênh
gói chung đường lên (CPCH). Thủ tục này được mô tả sau.
• Kênh truy nhập ngẫu nhiên vật lí (PRACH). Đây là kênh vật lí đường
lên dùng để mang thông tin điều khiển cho các mục đích truy nhập.
Nó cũng mang các gói người dùng ngắn từ UE.
• Kênh gói chung vật lí (PCPCH). Đây là kênh vật lí đường lên dùng để
mang các gói người dùng có kích thước từ ngắn đến trung bình. Đây
là kênh thiết lập nhanh và giải phóng nhanh, được xử lí tương tự như
thu RACH bởi lớp vật lí tại trạm gốc.
• Kênh dữ liệu vật lí dành riêng (DPDCH). Đây là kênh vật lí đường
lên và đường xuống dùng để mang thông tin người dùng.
• Kênh điều khiển vật lí dành riêng (DPCCH). Đây là kênh vật lí đường
lên và đường xuống dùng để mang thông tin điều khiển.
8.7.2 Các kênh vật lí UTRA TDD
Sau đây là các kênh vật lí của UTRA TDD. Khi không có tham chiếu cụ thể được thực
hiện với bất kì công nghệ nào thì có nghĩa là các kênh vật lí mô tả dưới đây áp dụng được
cho cả 2 công nghệ TDD, UTRA TDD-3.84 và UTRA TDD-1.28.
• Khe thời gian dẫn đường đường xuống (DwPTS)-UTRA TDD-1.28. Đây là kênh
vật lí đường xuống được sử dụng làm chuẩn pha cho các kênh vật lí đường xuống
khác.

14
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Khe thời gian dẫn đường đường lên (UpPTS)-UTRA TDD-1.28. Đây là kênh vật lí
đường lên dùng làm chuẩn pha cho các kênh vật lí đường lên khác.
• Kênh đồng bộ (SCH). Đây là kênh vật lí đường xuống dùng để tìm kiếm tế bào.
• Kênh vật lí điều khiển chung sơ cấp (P-CCPCH). Đây là kênh vật lí đường xuống
mang thông tin điều khiển với tốc độ bít cố định 30 kbit/s.
• Kênh vật lí điều khiển chung thứ cấp (S-CCPCH). Đây là kênh vật lí đường xuống
mang thông tin điều khiển với tốc độ bít thay đổi.
• Kênh chỉ thị tìm gọi (PICH) – UTRA TDD-3.84. Đây là kênh vật lí đường xuống
dùng để mang chỉ thị tìm gọi để báo sự có mặt của thông báo tìm gọi trên kênh
PCH.
• Kênh truy nhập ngẫu nhiên vật lí (PRACH). Đây là kênh vật lí đường lên dùng để
mang thông tin điều khiển truy nhập. Nó cũng mang các gói người dùng ngắn từ
UE.
• Kênh chia sẻ đường xuống vật lí (PDSCH). Đây là kênh vật lí đường xuống dùng
để mang dữ liệu và thông tin điều khiển trên cơ sở chung. Nó được dùng liên kết
với kênh dành riêng đường xuống (DCH đường xuống), trên đó thông tin cần để
giải mã PDSCH được mang đến cho UE.
• Kênh chia sẻ đường lên vật lí (PUSCH). Đây là kênh vật lí đường lên dùng để
mang các gói người dùng có kích thước từ ngắn đến trung bình. Đây là kênh thiết
lập nhanh và giải phóng nhanh được xử lí tương tự như thu RACH bởi lớp vật lí
tại trạm gốc.
• Kênh vật lí dành riêng (DPCH). Đây là kênh vật lí đường lên và đường xuống
dùng để mang thông tin người dùng và thông tin điều khiển.
8.8 Ánh xạ các kênh
Hình 8.5 minh họa các ánh xạ có thể của các kênh logic, kênh vận tải và các kênh vật lí.
Trong hình này, AP-CPCH chỉ thị 4 kênh vật lí đường xuống dùng cho thủ tục truy nhập
CPCH.

15
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

8.9 Thứ tự truyền dẫn lớp vật lí


Hình 8.6 và 8.7 minh họa chuỗi truyền dẫn lớp vật lí đối với dữ liệu UP tương ứng đối
với đường lên và đường xuống. Mỗi chuỗi bắt đầu tại mức kênh vận tải và kết thúc ở mức
kênh vật lí. Chú ý vài kênh vận tải có thể ghép như thế nào lên 1 hoặc nhiều hơn kênh dữ
liệu vật lí dành riêng. Chuỗi truyền dẫn là như nhau trong cả hai hướng đối với UTRA
TDD và khác nhau 1 chút đối với UTRA FDD.
Theo hướng đường lên UTRA FDD, luồng dữ liệu là liên tục với các dịch vụ ghép động.
Các symbol được phát đi với công suất như nhau đối với tất cả các dịch vụ, điều này kéo
theo việc các tốc độ tương đối của các dịch vụ khác nhau phải được điều chỉnh để cân
bằng yêu cầu mức công suất đối với các symbol kênh. Theo hướng đường xuống UTRA
FDD, luồng dữ liệu có khả năng phát gián đoạn (DTX). Trong trường hợp này, các bít chỉ
thị DTX được chèn vào, nhưng không được phát đi trong không trung và chúng thông
báo cho máy phát biết các vị trí bít tại đó không phát. Điểm chèn các bít chỉ thị DTX phụ
thuộc vào việc có sử dụng hay không các vị trí cố định hoặc linh hoạt của các kênh vận
tải trong khung vô tuyến. Quyết định có sử dụng hay không các vị trí cố định hay linh
hoạt trong khi kết nối là trách nhiệm của UTRAN. Có thể có hai giai đoạn chèn DTX.
Chèn 1 xảy ra chỉ khi các vị trí của các kênh vận tải trong khung vô tuyến là cố định.
Trong chèn 2, do xảy ra bước xen kẽ nên DTX sẽ phân bố trên tất cả các khe sau khi xen
kẽ lần 2. Chuỗi truyền dẫn minh họa trong hình 8.6 và 8.7 được chi tiết hóa như sau.
Khối vận tải nhận được từ các lớp cao hơn, có khả năng phát hiện lỗi nhờ gắn thêm CRC.
Tùy thuộc vào yêu cầu dịch vụ được báo hiệu từ các lớp cao hơn, việc gắn thêm CRC có
thể có chiều dài 0, 8, 12, 16 hoặc 24 bít với các đa thức sinh vòng đối với các độ dài khác
0 tương ứng như sau:

16
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Tất cả các khối vận tải trong khoảng thời gian truyền dẫn (TTI) được liên kết (móc xích)
nối tiếp với nhau. Nếu kích thước của TTI tính theo số bít lớn hơn kích cỡ cực đại của
khối mã đang xét thì sự phân đoạn khối mã được tiến hành sau khi liên kết đã được thực
hiện. Kích thước cực đại của các khối mã thay đổi phụ thuộc vào sơ đồ mã hóa sử dụng
trong kênh vận tải.
Sau khi kết nối/phân đoạn, các khối mã đi tới khối mã kênh, tại đây có thể áp dụng các sơ
đồ mã hóa khác nhau cho kênh vận tải: mã xoắn, mã turbo hoặc không mã. Các dịch vụ
thời gian thực sử dụng mã FEC, còn các dịch vụ không thời gian thực sử dụng kết hợp
FEC và ARQ. Các tốc độ mã xoắn có thể là ½ hoặc 1/3, còn tốc độ mã turbo là 1/3.
Trong trường hợp tốc độ ½, các đa thức sinh là

Đối với lối ra 0 ( G0 ( D) = 561 ở dạng ốc tal) và

Đối với lối ra 1 ( G1 ( D) = 753 ở dạng ốc tal). Trong trường hợp mã 1/3, các đa thức sinh

Đối với lối ra 0 ( G0 ( D ) = 557 ở dạng ốc tal) và

Đối với lối ra 1 ( G1 ( D) = 663 ở dạng ốc tal) và

Đối với lối ra 2 ( G2 ( D ) = 711 ở dạng ốc tal).


Các mã turbo được dùng đối với các dịch vụ đòi hỏi chất lượng dịch vụ - BER – trong
phạm vi từ 10-3 đến 10-6. Muốn vậy, mã xoắn liên kết song song (PCCC) với bộ mã hóa
thành phần 8 trạng thái được sử dụng. Hàm truyền đạt của bộ mã hóa thành phần này như
sau

Giá trị ban đầu của các bộ ghi dịch của bộ mã hóa PCCC được đặt là toàn 0. Lối ra của
nó được lược bớt để tạo nên các bít đã mã ứng với tốc độ mã 1/3 mong muốn.
Chức năng san bằng khung vô tuyến liên quan đến san bằng kích thước khung, điều này
đảm bảo rằng lối ra có thể phân đoạn thành các đoạn kích thước như nhau để phát đi

17
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

trong TTI của kênh vận tải tương ứng. Việc san bằng kích thước khung được tiến hành
nhờ phép đệm dãy bít vào và được thực hiện chỉ ở đường lên.
Xen kẽ lần đầu hay xen kẽ giữa các khung, thực hiện xen kẽ khối với hoán vị giữa các cột
và các độ sâu xen kẽ có thể là 10, 20, 40 và 80 ms.
Sau khi thực hiện xen kẽ lần 1, và nếu khoảng thời gian truyền dẫn dài hơn 10 ms thì dãy
bít được phân đoạn và được ánh xạ lên các khung vô tuyến liên tiếp có kích thước bằng
nhau. Lưu ý rằng việc san bằng kích thước khung vô tuyến tiếp theo trong đường lên và
phối hợp tốc độ trong đường xuống, độ dài dãy bít lối vào được đảm bảo có bội nguyên
số khung vô tuyến trong TTI tương ứng. Khi TTI dài hơn 10 ms, dãy bít lối vào được
phân đoạn và ánh xạ lên số nguyên các khung liên tiếp. Số bít trên kênh vận tải có thể
thay đổi giữa các TTI khác nhau. Trên đường xuống, việc phát bị gián đoạn nếu số bít
nhỏ hơn giá trị cực đại.
Để bảo đảm rằng sau khi ghép các kênh vận tải, tốc độ bít tổng cộng bằng với tốc độ bít
kênh tổng cộng của tất cả các kênh vật lí dành riêng được phân bổ, việc phối hợp tốc độ
được thực hiện. Phối hợp tốc độ được dùng để sắp xếp số bít cần phát đi trong khung.
Điều này được thực hiện bằng cách lặp lại hoặc lược bớt các bít của các kênh vận tải.
Thuộc tính phối hợp tốc độ là semistatic và chỉ có thể thay đổi qua báo hiệu lớp cao. Trên
đường lên phối hợp tốc độ là thao tác động thay đổi theo từng khung. Việc ghép vài kênh
vận tải lên cùng một khung bao gồm cả việc phối hợp tốc độ để đảm bảo việc sử dụng tất
cả các symbol. Trong trường hợp này, việc giảm tốc độ symbol của kênh vận tải kéo theo
sự tăng tốc độ symbol của kênh vận tải khác. Chú ý rằng bằng cách điều chỉnh thuộc tính
phối hợp tốc độ, chất lượng của các dịch vụ khác nhau có thể điều chỉnh sao cho đạt được
yêu cầu mức công suất symbol gần bằng nhau.
Sau khi phối hợp tốc độ và cứ mỗi 10 ms, mọi khung vô tuyến từ mỗi kênh vận tải lại
được giao cho khối ghép kênh vận tải. Các khung vô tuyến này được ghép nối tiếp để tạo
thành kênh vận tải hỗn hợp có mã hóa (CCTrCH).
Nếu yêu cầu nhiều hơn một kênh vật lí để truyền CCTrCH thì sự phân đoạn kênh vật lí
được thực hiện sao cho dữ liệu được phân bố đều trên các kênh vật lí tương ứng. Xen kẽ
lần 2 sau đó được áp dụng đồng thời cho tất cả các bít dữ liệu phát đi trong một khung,
hoặc áp dụng riêng biệt trong mỗi khe thời gian (đối với UTRA TDD) trên đó CCTrCH
được ánh xạ. Việc chọn sơ đồ xen kẽ lần 2 được điều khiển bởi lớp cao hơn.
Bước cuối cùng trong chuỗi truyền dẫn này là ánh xạ các bít từ bộ xen kẽ thứ 2 lên các
kênh vật lí. Việc ghép các kênh vận tải khác nhau lên một CCTrCH và ánh xạ một
CCTrCH lên các kênh vật lí tuân theo một số qui tắc cơ bản:
• Các kênh vận tải ghép lên một CCTrCH nên có phối hợp định thời. Điều này có
nghĩa là các khối vận tải xuất hiện trên các kênh vận tải khác nhau của các
khoảng thời gian truyền dẫn có thể khác nhau sẽ có đồng chỉnh các thời điểm
phát. Nếu các thời điểm phát có thể là bội của ∆t ms, thì kênh vận tải k × ∆t ms
sẽ chiếm k khoảng phát bắt đầu tại các thời điểm phát được phép.
• Các CCTrCH khác nhau không thể ánh xạ lên cùng kênh vật lí.
• Một CCTrCH được ánh xạ lên 1 hoặc vài kênh vật lí.
• Các kênh vận tải dành riêng và các kênh vận tải chung không thể thành cùng
kênh CCTrCH.
• Trong số các kênh vận tải chung, chỉ có FACH và PCH có thể thuộc về cùng
CCTrCH.
• CCTrCH mang BCH sẽ không mang bất kì kênh vận tải nào khác.

18
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• CCTrCH mang RACH sẽ không mang bất kì kênh vận tải nào khác.
Lưu ý rằng có 2 loại CCTrCH: CCTrCH loại dành riêng, ứng với kết quả mã hóa và ghép
kênh của 1 hoặc hơn DCH; và CCTrCH loại chung, ứng với kết quả mã hóa và ghép kênh
chung, cụ thể là RACH và USCH trên đường lên, và DSCH, BCH, FACH hoặc PCH trên
đường xuống.

19
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

20
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

8.10 Cấu trúc khung và cấu trúc kênh


Phần này mô tả cấu trúc khung và cấu trúc kênh của UTRA. Công nghệ UTRA FDD
được chú ý đặc biệt ở chỗ các cấu trúc này được mô tả chi tiết.
8.10.1 Các kênh vật lí đường lên UTRA FDD
Mục này trình bày các kênh vật lí đường lên khác nhau của UTRA FDD.
Kênh dữ liệu vật lí dành riêng và kênh điều khiển vật lí dành riêng
Hai kênh vật lí đường lên dành riêng được xác định: DPDCH và DPCCH. Hai kênh này
được ghép mã trong mỗi khung trên cơ sở cùng pha và vuông pha (ghép mã I/Q).
DPDCH được dùng để mang kênh vận tải DCH, còn DPCCH dùng để mang thông tin
điều khiển lớp 1. Số kênh DPDCH có thể thay đổi từ 0 đến 6 trên mỗi kết nối vô tuyến
với hệ số trải có thể trong phạm vi 256 đến 4. Mặt khác chỉ có một kênh DPCCH trên
mỗi liên kết với hệ số trải cố định 256. Do đó tốc độ dữ liệu DPCCH là cố định, còn tốc
độ dữ liệu DPDCH có thể thay đổi theo từng khung.
Thông tin mang bởi DPDCH tương ứng với thông tin lớp cao kể cả dữ liệu người dùng.
Thông tin điều khiển lớp 1 mang bởi DPCCH bao gồm các bít dẫn đường dùng để hỗ trợ
ước lượng kênh cho tách sóng coherent; các bít điều khiển công suất phát TPC, dùng để
mang các lệnh điều khiển công suất cho điều khiển công suất đường xuống; các bít thông
tin phản hồi (FBI), dùng để hỗ trợ các kĩ thuật yêu cầu hồi tiếp từ UE đến điểm truy nhập
UTRAN, bao gồm phân tập phát vòng kín và phát phân tập chọn lọc vị trí; các bít thông
tin điều khiển khuôn dạng vận tải (TFCI), dùng để thông báo cho máy thu về sự kết hợp
khuôn dạng vận tải tức thời (thông tin tốc độ của các kênh vận tải ánh xạ lên DPDCH
đang được ghép với DPCCH mang thông tin điều khiển như thế). Sự có mặt hoặc vắng
mặt của TFCI trong các kênh vật lí dành riêng đường lên đặc trưng cho vài dịch vụ đồng
thời hoặc dịch vụ tốc độ cố định trên kênh.
Khung vô tuyến dài 10 ms và chứa 15 khe. Trên cơ sở là tốc độ truyền dẫn bằng 3.84
Mchip/s, tổng số chíp là 38.400 trên khung vô tuyến và 2560 trên khe. Khe ứng với một
chu kì điều khiển công suất và dài 0.666666... ms. Cấu trúc khung của các kênh vật lí
dành riêng đường lên như hình 8.8. Số bít của DPCCH N bit/slot thay đổi phù hợp với 7
khuôn dạng khe có thể, từ 10 bit/khe đối với khuôn dạng khe 0, đến 640 bít/khe đối với
khuôn dạng khe 6. Cụ thể hơn

Ở đây hệ số trải bằng

Hoặc tương đương

ở đây slot_format nhận các giá trị 0, 1, 2, 3, 4, 5, hoặc 6. Bảng 8.2 chỉ ra các trường
DPDCH (tốc độ dữ liệu trong bảng ứng với tốc độ ngay trước khi trải). Giống như đối với
DPCCH, số bít trên khe, tốc độ bít, tốc độ symbol và hệ số trải tương ứng là không đổi và
bằng 10 bít/khe, 15 kbít/s, 15 kbít/s, và 256 tương ứng. Số bít dẫn đường, bít TPC, bít
TFCI, và các bít FBI thay đổi phù hợp với định dạng khe, nhưng tổng của chúng là không
đổi và luôn bằng 10. Các kênh vật lí dành riêng đường lên có thể làm việc trên cơ sở đa

21
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

mã, trong trường hợp đó vài kênh DPDCH song song được phát đi dùng các mã phân
kênh khác nhau. Ngay cả khi hoạt động trên cơ sở đa mã, chỉ 1 DPCCH trên liên kết vô
tuyến được sử dụng.

Kênh truy nhập ngẫu nhiên vật lí


PRACH được dùng để mang RACH. Chính sách truy nhập dựa trên thuật toán ALOHA
phân khe có chỉ thị bắt nhanh. Có 15 khe truy nhập trên 2 khung vô tuyến (15 khe truy
nhập trên 20 ms) cách nhau 5120 chip nghĩa là mỗi khe thời gian có 5120 chip được xác
định. UE có thể bắt đầu phát truy nhập ngẫu nhiên ở đầu mỗi khe truy nhập bất kì, với
thông tin về các khe truy nhập nào đang có sẵn cho phát truy nhập ngẫu nhiên được cho
bởi các lớp cao. Cấu trúc của truyền dẫn truy nhập ngẫu nhiên gồm 1 mào đầu 4096 chip
hoặc nhiều hơn và một phần thông báo 10 hoặc 20 ms. Phần mào đầu gồm 256 lần lặp
của chữ kí có độ dài 16 chip; với tối đa 16 chữ kí có sẵn. Phần thông báo dài 10 ms gồm
15 khe, mỗi khe chứa 2560 chip. Mỗi khe được chia thành 2 phần, một mang thông tin

22
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

RACH và một mang thông tin điều khiển lớp 1. Phần thông báo dài 20 ms gồm 2 phần
thông báo 10 ms. Phần dữ liệu bao gồm

ở đây slot_format nhận các giá trị 0, 1, 2 hoặc 3, tương ứng với hệ số trải 256, 128, 64 và
32. Phần điều khiển gồm 8 bít dẫn đường đã biết để ước lượng kênh và tách sóng
coherent, và 2 bít cho TFCI tương ứng với hệ số trải 256. Chú ý rằng số bít TFCI trong
thông báo truy nhập ngẫu nhiên là 30 (2 bít/khe x 15 khe/khung). Phần dữ liệu và phần
điều khiển được ghép mã và phát song song. Cấu trúc khung của PRACH cho trên hình
8.9. Bảng 8.3 chỉ ra các trường PRACH (tốc độ dữ liệu ứng với ngay trước khi trải).

23
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Kênh gói chung vật lí


PCPCH được dùng để mang CPCH. Chính sách truy nhập được dựa trên đa truy nhập
cảm nhận số (dữ liệu) có phát hiện va chạm (DSMA-CD) và có chỉ thị bắt nhanh. Truyền
dẫn từ UE có thể bắt đầu ở đầu các khoảng thời gian được xác định so với biên giới của
khung của BCH thu được của tế bào hiện thời. Phát truy nhập của PCPCH sử dụng một
mào đầu truy nhập 4096 chip hoặc hơn, một mào đầu phát hiện va chạm 4096 chip, một
mào đầu điều khiển công suất DPCCH 0 hoặc 8 khe và phần thông báo có chiều dài thay
đổi. Phần mào đầu truy nhập và phần mào đầu phát hiện va chạm tương tự phần mào đầu
RACH và sử dụng các dãy chữ kí mào đầu. Mào đầu điều khiển công suất biểu diễn cấu
trúc khe chứa 10 bít/khe xác định bởi các bít dẫn đường, các bít TPC, các bít TFCI và bít
FBI với tốc độ bít kênh 15 kbit/s và hệ số trải 256. Phần thông báo gồm 1 hoặc nhiều hơn
các khung 10 ms, với số khung được xác định bởi các lớp cao hơn. Khung được chia
thành 15 khe 2560 chip, mỗi khe chứa phần dữ liệu và phần điều khiển. Hai phần này
được ghép mã và được phát song song. Cấu trúc khe của bảng 8.2 áp dụng cho phần dữ
liệu và cấu trúc của mào đầu điều khiển công suất áp dụng cho phần điều khiển.
8.10.2 Các kênh vật lí đường xuống UTRA FDD
Mục này mô tả những kênh vật lí đường xuống khác nhau của UTRA FDD.
Kênh dữ liệu vật lí dành riêng và Kênh điều khiển vật lí dành riêng
Hai kênh vật lí đường xuống dành riêng được xác định: kênh dữ liệu vật lí dành riêng và
kênh điều khiển vật lí dành riêng. DPDCH được dùng để mang kênh vận tải DCH, còn
DPCCH dùng để mang thông tin điều khiển lớp 1 biểu diễn bởi các bít dẫn đường, các bít
TFCI và các bít TPC. Hai kênh này được ghép thời gian với nhau.
Khung vô tuyến dài 10 ms và chứa 15 khe. Vì tốc độ phát là 3.84 Mchip/s nên tổng số
chip là 38.400 trên khung vô tuyến và 2560 trên khe. Khe ứng với một chu kì điều khiển
công suất và dài 0.6666.. ms. Cấu trúc khung của các kênh vật lí dành riêng đường xuống
như hình 8.10. Tổng số bít trên khe Nbit/slot thay đổi từ 10 đến 1280 với hệ số trải thay đổi
từ 512 đến 4. Cụ thể hơn

ở đây hệ số trải bằng

Hoặc tương đương

ở đây slot_format nhận các giá trị 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6 hoặc 7. Bảng 8.4 chỉ ra các trường
DPDCH và DPCCH. Tốc độ symbol bằng một nửa tốc độ bít kênh khi cả hai tốc độ được
tính ngay trước khi trải.
Truyền dẫn đa mã cũng có thể áp dụng trong đường xuống, trong đó một CCTrCH được
ánh xạ lên nhiều hơn một kênh đường xuống song song sử dụng cùng hệ số trải. Phần
điều khiển của kênh tức là DPCCH chỉ được phát trên kênh đường xuống đầu tiên. Trên
các kênh đường xuống bổ xung, chu kì thời gian của DPCCH được lấp đầy bằng các bít
DTX. Cũng có thể có vài CCTrCH ánh xạ lên các kênh đường xuống khác nhau và phát

24
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

đến cùng UE. Trong trường hợp này, các hệ số trải khác nhau có thể sử dụng. Như trước
đây thông tin điều khuển chỉ được gửi đi trên kênh đầu tiên trong khi các bít DTX được
phát trong khoảng thời gian tương ứng đối với các kênh khác.

Cũng có DPCCH đường xuống (DL-DPCCH) đối với CPCH, đây là trường hợp đặc biệt
của kênh vật lí dành riêng sử dụng hệ số trải 512. Cấu trúc khung của DL-DPCCH tương
tự như cấu trúc chỉ ra trên hình 8.10, nhưng chỉ các trường TPC, TFCI, dẫn đường và
CCC (lệnh điều khiển CPCH) là có mặt. Các bít CCC được dùng để hỗ trợ báo hiệu
CPCH như là lệnh lớp 1(bắt đầu chỉ thị thông báo) và lệnh lớp cao (lệnh dừng khẩn cấp).
Tốc độ bít kênh, tốc độ symbol kênh và số bít tren khe tương ứng là 15, 7.5 và 10 bít.
Kênh dẫn đường chung
CPICH là kênh mã không điều chế phát với tốc độ cố định 30 kbit/s (hệ số trải 256),
mang dãy bít/symbol xác định trước. Cấu trúc khung của CPICH gồm 15 khe 2560 chip
và dài 10 ms. Khe gồm 20 bít, hoặc tương đương 10 symbol. Hai loại CPICH được cung
cấp: CPICH sơ cấp (P-CPICH) và CPICH thứ cấp (S-CPICH). P-CPICH luôn luôn biểu
diễn cùng mã phân kênh, còn S-CPICH có thể có mã phân kênh tùy ý với hệ số trải 256.
P-CPICH được xáo trộn bằng mã xáo trộn sơ cấp (PSC) còn S-CPICH được xáo trộn
bằng PSC hoặc mã xáo trộn thứ cấp (SSC). Mỗi tế bào có một P-CPICH nhưng không có
hoặc có nhiều S-CPICH. P-CPICH được phát quảng bá khắp tế bào, còn S-CPICH có thể
phát trên toàn tế bào hoặc chỉ trên 1 phần của tế bào.
P-CPICH được dùng làm chuẩn pha cho SCH, P-CCPCH, AICH, PICH, AP-AICH,
CD/CA-ICH, CSICH và S-CCPCH mang PCH. Hơn nữa, theo ngầm định P-PCICH là
chuẩn pha cho S-CCPCH chỉ mang FACH và DPCH đường xuống, nhưng điều kiện
ngầm định này có thể thay đổi bằng báo hiệu lớp cao. S-CPICH có thể dùng làm chuẩn
pha cho S-CCPCH chỉ mang FACH và /hoặc DPCH đường xuống, nhưng điều này không
phải là điều kiện ngầm định.
Kênh vật lí điều khiển chung sơ cấp

25
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

P-CCPCH là kênh tốc độ cố định phát với tốc độ 30 kbit/s (hệ số xáo trộn 256), dùng để
mang kênh vận tải BCH. Cấu trúc khung của P-CCPCH gồm 15 khe 2560 chip và dài 10
ms. Một khe gồm 20 bít nhưng 2 bít đầu (256 chíp) không được phát. Khoảng thời gian
tương ứng được dùng để ghép SCH sơ cấp và SCH thứ cấp. P-CCPCH được phát trên
toàn tế bào.
Kênh vật lí điều khiển chung thứ cấp
S-CCPCH là kênh tốc độ biến đổi dùng để mang FACH và PCH, các kênh này xuất hiện
trong cùng S-CCPCH hoặc trong các S-CCPCH riêng. Cấu trúc khung của S-CCPCH
gồm 15 khe 2560 chip và dài 10 ms. Mỗi khe đều chứa thông tin điều khiển và dữ liệu;
phần điều khiển gồm các bít TFCI và các bít dẫn đường. Tổng số bít trên khe Nbit/slot thay
đổi từ 20 đến 1280 với hệ số trải thay đổi từ 256 đến 4. Tương ứng tốc độ bít kênh thay
đổi từ 30 đến 1920 kbit/s với tốc độ symbol kênh bằng một nửa tốc độ bít kênh. Cụ thể
hơn

ở đây hệ số trải là

Hoặc tương đương

ở đây slot_format nhận các giá trị 0, 1, 2, 3, 4, 5, hoặc 6.


S-CCPCH mang FACH có thể phát đi trên một phần của tế bào (búp sóng hẹp) nếu cần.
S-CCPCH có thể chứa TFCI hoặc không, điều này được quyết định bởi UTRAN. Giá trị
TFCI trong mỗi khung vô tuyến xác định tổ hợp định dạng vận tải của các FACH và/hoặc

26
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

PCH hiện đang sử dụng, và điều này được thương lượng tại mỗi lần bổ xung/loại bỏ
FACH/PCH.
Kênh đồng bộ
SCH được dùng để tìm kiếm tế bào, nó gồm SCH sơ cấp (P-SCH) và SCH thứ cấp (S-
SCH) được ghép mã với nhau và được phát song song. Cấu trúc khung của SCH gồm 15
khe 2560 chip và dài 10 ms. Trong số 2560 chip trong mỗi khe này, chỉ có 256 chip đầu
tiên được sử dụng cho SCH và khoảng thời gian tương ứng được chia sẻ bởi P-CCPCH
như đã nói ở trên. P-SCH gồm mã điều chế được phát 1 lần trong mỗi khe thời gian. Mã
như vậy được gọi là mã đồng bộ sơ cấp (PSC) và giống hệt nhau đối với mọi tế bào trong
hệ thống. S-SCH gồm dãy 15 mã điều chế 256 chip, gọi là các mã đồng bộ thứ cấp
(SSC). Mỗi khối 256 chip được phát đi trong mỗi khe tương ứng của khung. SSC được
chọn từ tập gồm 16 mã có độ dài 256. Dãy trên S-SCH chỉ thị nhóm mã xáo trộn trong số
64 nhóm có thể mà mã xáo trộn đường xuống của tế bào thuộc về.
Kênh chia sẻ đường xuống vật lí
PDSCH được dùng để mang DSCH và được phân bổ trên cơ sở khung vô tuyến. Phương
thức hoạt động có thể của PDSCH được minh họa như sau. Các PDSCH khác nhau có thể
được phân bổ cho cho các UE khác nhau trên cơ sở ghép mã; nhiều PDSCH song song
với cùng hệ số trải có thể phân bổ cho 1 UE; PDSCH được phân cho cùng UE nhưng trên
các khung khác nhạu có thể có các hệ số trải khác nhau. Mỗi PDSCH liên kết với DPCH
đường xuống, không hất thiết phải có cùng hệ số trải và cũng không phải đồng chỉnh
khung với PDSCH. Tất cả thông tin điều khiển lớp 1 liên quan với PDSCH được mang
bởi phần DPCCH của DPCH đi kèm. Cấu trúc khung của PDSCH gồm 15 khe 2560 chíp
và dài 10 ms. Mỗi khe chỉ chứa thông tin dữ liệu, với thông tin điều khiển được cung cấp
bởi PDCH đường xuống đi kèm. Tổng số bít trên khe Nbit/slot thay đổi từ 20 đến 1280 với
hệ số trải thay đổi từ 256 đến 4. Tương ứng tốc độ bít kênh thay đổi từ 30 đến 1920 kbit/s
với tốc độ symbol kênh bằng một nửa tốc độ bít kênh. Cụ thể hơn

ở đây hệ số trải là

Hoặc tương đương

ở đây slot_format nhận các giá trị 0, 1, 2, 3, 4, 5, hoặc 6. UE đang thu DPCH liên kết
được thông báo có hay không có dữ liệu cần giải mã trên DSCH nhờ TFCI hoặc báo hiệu
lớp cao.
Kênh chỉ thị bắt
AICH được dùng để mang các chỉ thị bắt tương ứng với chữ kí trên PRACH. Cấu trúc
khung của AICH gồm 15 khe truy nhập 5120 chip liên tiếp và dài 20 ms. Khe truy nhập
chứa chỉ thị bắt, gồm 32 symbol giá trị thực (4096 chip), và 1 bộ phận gồm 1024 chip

27
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

dành cho sử dụng CSICH hoặc bởi kênh vật lí khác được chỉ định. AICH có tốc độ cố
định với hệ số trải 256 và dùng làm chuẩn pha cho P-CPICH.
Kênh chỉ thị bắt mào đầu truy nhập CPCH
AP-AICH được dùng để mang chỉ thị bắt AP của CPCH; chỉ thị bắt AP tương ứng với
chữ kí AP phát đi bởi UE. Cấu trúc khung của AICH gồm 15 khe truy nhập 5120 chip
liên tiếp và dài 20 ms. Khe truy nhập chứa chỉ thị bắt AP, gồm 32 symbol giá trị thực và
1 phần gồm 1024 chip dành cho sử dụng bởi CSICH hoặc bởi kênh vật lí khác được chỉ
định. AP-AICHcó tốc độ cố định với hệ số trải 256 và dùng làm chuẩn pha cho P-CPICH
Kênh chỉ thị gán kênh/phát hiện va chạm CPCH
CD/CA-ICH được dùng để mang chỉ thị CD nếu CA là không tích cực hoặc chỉ thị
CD/CA đồng thời nếu CA là tích cực. Cấu trúc khung của CD/CA-ICH gồm 15 khe truy
nhập 5120 chip liên tiếp và dài 20 ms. Khe truy nhập chứa chỉ thị CD/chỉ thị CA gồm 32
symbol giá trị thực và 1 phần gồm 1024 chip dành cho sử dụng bởi CSICH hoặc bởi kênh
vật lí khác được chỉ định. AP-AICHcó tốc độ cố định với hệ số trải 256 và dùng làm
chuẩn pha cho P-CPICH.
Kênh chỉ thị tìm gọi
PICH được dùng để mang các chỉ thị tìm gọi và luôn luôn đi kèm với S-CCPCH là kênh
mà PCH ánh xạ lên. Cấu trúc khung của PICH gồm 300 bít và dài 10 ms, với 288 bít
dùng cho chỉ thị tìm gọi và 12 bít dành cho ứng dụng có thể trong tương lai. Nó có tốc độ
bít cố định và hệ số trải 256.
Kênh chỉ thị tình trạng CPCH
CSICH chạy kèm với kênh vật lí dùng để truyền CPCH AP-AICH, có cùng mã phân kênh
và mã xáo trộn. Cấu trúc khung của CSICH gồm 15 khe truy nhập 40 bít và dài 20 ms.
Khe truy nhập chứa bộ phận không có thông tin và bộ phận gồm chỉ thị tình trạng. Phần
không có thông tin ứng với 4096 chip và dành cho sử dụng bởi AICH, AP-AICH hoặc
CD/CA-ICH. Phần chứa chỉ thị tình trạng dài 8 bít. CSICH có tốc độ cố định với hệ số
trải 256, dùng làm chuẩn pha cho P-CPICH.
8.10.3 UTRA TDD-3.84
Định thời UTRA TDD-3.84 dựa trên cấu trúc đa khung. Đa khung chứa n các khung dài
10 ms, một khung chứa 15 khe 2560 chíp. Các khe thời gian có thể được phân bổ cho
đường lên hoặc đường xuống theo yêu cầu bởi các môi trường khác nhau và các kịch bản
triển khai. Cụ thể ít nhất một khe thời gian phải được phân bổ cho đường lên và ít nhất
một khe phân bổ cho đường xuống. Chú ý rằng có thể gặp cấu trúc khung không đối
xứng cao đối với ứng dụng đã cho. Cấu trúc khe thời gian – cấu trúc cụm – chứa hai
trường dữ liệu phân cách nhau bởi trường giữa khung dùng cho san bằng kênh (dãy huấn
luyện) và tách sóng coherent tại máy thu. Trường TFCI cũng được kết hợp để chỉ phương
thức ghép trong khung. Bất cứ khi nào áp dụng được, TPC cũng có thể được đưa vào.
Ngoài ra khoảng bảo vệ được cung cấp ở cuối cụm để phục vụ mục đích đồng chỉnh thời
gian. Các midamble làm giảm thông tin tải trọng người dùng, bao gồm các dãy huấn
luyện của các người dùng khác nhau. Cấu trúc thời gian của UTRA TDD-3.84 được
minh họa trong hình 8.11. UTRA TDD-3.84 cho phép sử dụng đa mã và đa khe thời gian.
Sau đây mô tả một số kênh vật lí chính của UTRA TDD-3.84.

28
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Kênh vật lí dành riêng


DPCH được dùng để mang thông tin người dùng và thông tin điều khiển. Hai định dạng
cụm có thể sử dụng cho khe mang DCH. Trong định dạng cụm 1, mỗi trường trong 2
trường dữ liệu (thông tin tải trọng) chứa 976 chip và các trường này được phân cách bởi
phần giữa 512 chip. Trong định dạng cụm 2, mỗi trường trong 2 trường dữ liệu chứa
1104 chip và phân cách nhau bởi phần giữa 256 chip. Trong cả hai trường hợp độ dài
khoảng bảo vệ là 96 chip, tương ứng với 25 microgiây tại tốc độ 3.84 Mchip/s (bán kính
tế bào 3.75 km). Các symbol nhận được từ quá trình điều chế được trải bằng mã phân
kênh có độ dài thay đổi từ 1 đến 16 trong đường lên và 1 và 16 trong đường xuống. Số
symbol trên trường dữ liệu như hàm của hệ số trải trong mỗi định dạng cụm được cho ở
bảng 8.5. Việc lựa chọn định dạng cụm 1 hay 2 phụ thuộc vào ứng dụng và vào số người
dùng được phân bổ trên khe thời gian. Số bít thực tế trên cụm phụ thuộc vào sơ đồ điều
chế được sử dụng. Đối với điều chế QPSK số bít thực tế trên trường dữ liệu là 4 lần các
con số trong bảng 8.5.

29
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Kênh truy nhập ngẫu nhiên vật lí


PRACH mang RACH và dùng hệ số trải có giá trị 8 và 16. Cấu trúc cụm PRACH bao
gồm một trường dữ liệu 976 chip, phần giữa 512 chip, trường dữ liệu khác 880 chíp và
khoảng bảo vệ 192 chip. Khoảng bảo vệ ứng với 50 microgiây (bán kính tế bào 7.5 km).
Kênh đồng bộ
SCH dùng để tìm kiếm tế bào và chiếm một hoặc hai khe thời gian trong khung 10 ms
(15 khe). Trong trường hợp cấu trúc với 2 khe, các khe chứa SCH được phân cách bởi 7
khe khác. Trong khe tương ứng dịch thời gian được đưa vào để các dịch khác nhau có thể
dùng để nhận dạng các tế bào trong khe SCH. SCH chứa 4 dãy đồng bộ tạo nên bởi một
mã sơ cấp và 3 mã thứ cấp, mỗi mã dài 256 chip với 4 trong chúng được phát đồng thời.
Các thông tin sau đây được mang bởi SCH: nhóm mã trạm gốc (5 bít); vị trí khung trong
chu kì xen kẽ (1 bít); vị trí khe trong khung (1 bít), vị trí CCPCH sơ cấp (3 bít). Dãy SCH
được dùng để giải mã những tín hiệu sau: đồng bộ khung; dịch thời gian; phần giữa; tập
mã trải của trạm gốc; các mã trải và vị trí của BCCH.
Kênh chia sẻ đường xuống và Kênh chia sẻ đường lên
DSCH và USCH được phân bổ trên cơ sở tạm thời và có cùng cấu trúc như của kênh
dành riêng. Trong DSCH TFCI có thể chỉ thị những đầu cuối nào cần giải mã kênh.
Trong USCH, báo hiệu mức cao được sử dụng và trong thực tế kênh không bị chia sẻ trên
cơ sở từng khung.
Kênh vật lí điều khiển chung
CCPCH tương tự như DPCH và có thể ánh xạ lên khe đường xuống bất kì kể cả các khe
P-SCH. Thông tin để ánh xạ được mang bởi BCH sơ cấp. Trong thực tế, sau khi đạt được
đồng bộ, việc định thời và mã hóa của BCH sơ cấp là đã biết.
8.10.4 UTRA TDD-1.28
Định thời UTRA TDD-1.28 được dựa trên cấu trúc đa khung. Đa khung gồm n khung dài
10 ms, một khung gồm 2 khung con 5 ms. Một khung con chứa 7 khe thời gian 675
microgiây (khe thời gian bình thường) và 3 khe thời gian đặc biệt: DwPTS (dẫn đường
đường xuống), G (khoảng bảo vệ) và UpPTS (dẫn đường đường lên). Kênh vật lí có thể
được phân bổ 1 hoặc nhiều hơn khe thời gian 1 cách liên tục hoặc gián đoạn. Trong
trường hợp 1, việc phân bổ xảy ra trong mỗi khung. Trong trường hợp thứ 2, việc phân
bổ xảy ra trong tập con của tất cả các khung. Một khe thời gian (khe 0) trong 7 khe luôn
luôn được phân bổ như đường xuống, còn khe khác (khe 1) được phân bổ như đường lên.
Các khe thời gian còn lại có thể phân bổ như đường lên hoặc đường xuống theo yêu cầu.

30
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Chú ý rằng cấu hình khung bất đối xứng cao có thể gặp đối với ứng dụng đã cho. Các khe
thời gian đường xuống và đường lên phân cách nhau bởi điểm chuyển mạch nhưng chỉ có
2 điểm chuyển mạch có thể trong mỗi khung con. Cấu trúc khe thời gian – cấu trúc cụm –
chứa 2 trường dữ liệu cách nhau bởi phần giữa dùng để san bằng kênh (dãy huấn luyện)
và để tách sóng coherent tại máy thu. Khoảng bảo vệ được cung cấp tại cuối cụm để đồng
chỉnh thời gian. Phần giữa giảm thông tin tải trọng người dùng, bao gồm các dãy huấn
luyện của các người dùng khác nhau. Cấu trúc thời gian của UTRA TDD-1.28 được minh
họa trên hình 8.12, tại đó các khe thời gian 2 và 3 được phân bổ như đường lên và các
khe thời gian 4, 5, 6 được phân bổ như đường xuống. UTRA TDD-1.28 cho phép sử
dụng đa mã và đa khe thời gian. Sau đây một số kênh vật lí UTRA TDD-1.28 được mô
tả.

Kênh vật lí dành riêng


DPCH dùng để mang thông tin người dùng và thông tin điều khiển. Định dạng cụm gồm
2 trường dữ liệu (thông tin tải trọng) cả hai dài đến 704 chip và phân cách bởi phần giữa
144 chip, và khoảng bảo vệ 16 chip (12.5 micro giây), bán kính tế bào 1.875 km). Các
symbol nhận được từ quá trình điều chế được trải bằng mã phân kênh có độ dài 16 trên
đường xuống và thay đổi từ 1 đến 16 trong đường lên. Số symbol trên trường dữ liệu như
hàm của hệ số trải được cho trên bảng 8.6.

31
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Loại cụm được dùng cho phép phát TFCI cả trên đường xuống và đường lên. Đối với mỗi
người dùng, thông tin TFCI được phát 1 lần cứ mỗi khung 10 ms. Việc phát TPC được
thương lượng tại thiết lập cuộc gọi và có thể thương lượng lại trong cuộc gọi. Đối với
mỗi người dùng TPC được phát 1 lần cứ mỗi khung con 5 ms.
Kênh vật lí điều khiển chung sơ cấp
P-CCPCH mang BCH. Có 2 P-CCPCH: P-CCPCH1 và P-CCPCH2. Chúng được ánh xạ
lên hai kênh mã đầu tiên của khe thời gian 0 và có hệ số trải 16.
Kênh vật lí điều khiển chung sơ cấp
S-CCPCH mang PCH và FACH, cụ thể có 2 S-CCPCH là S-CCPCH1 và S-CCPCH2.
Hai kênh này được ánh xạ lên 2 kênh mã với hệ số trải 16. P-CCPCH và S-CCPCH có
thể được ghép thời gian trên khe thời gian 0 hoặc chúng có thể được phân bổ trên bất kì
khe thời gian đường xuống khác. Khe thời gian và các mã sử dụng được phát quảng bá
qua thông tin tế bào.
Kênh truy nhập ngẫu nhiên vật lí
PRACH mang RACH, nó dùng hệ số trải 16 hoặc 8. Cấu hình của nó (số khe thời gian và
các mã trải) được phát quảng bá qua BCH.
Kênh đồng bộ
Có hai loại kênh đồng bộ: DwPTS và UpPTS. DwPTS trong mỗi khung con được thiết kế
cho dẫn đường đường xuống và SCH. Nó được phát đẳng hướng hoặc định hướng (sec
tơ) với toàn bộ công suất. Nó gồm 96 chip (75 micro giây), trong đó 64 chip dùng để
đồng bộ và 32 chip là khoảng bảo vệ. Tập mã PN được dùng để phân biệt các tế bào.
UpPTS trong mỗi khung con được thiết kế cho cả dẫn đường đường lên và SCH. Nó gồm
150 chip (125 micro giây), trong đó 125 chip dùng cho đồng bộ và 32 chip tạo thành
khoảng bảo vệ. Tập mã PN được dùng để phân biệt các UE trong thủ tục truy nhập.
Trong điều kiện đăng kí vô tuyến hoặc truy nhập ngẫu nhiên, UE phát UpPTS đầu tiên và
sau khi có xác nhận từ mạng, nó phát RACH.
Kênh chia sẻ đường lên vật lí
PUSCH sử dụng cùng cấu trúc cụm như của DPCH. Thông tin liên quan đến điều khiển
công suất, tịnh tiến thời gian hoặc các thiết lập an ten định hướng được lấy từ FACH và
DCH. TFCI cũng có thể phát trong PUSCH.
Kênh chia sẻ đường xuống vật lí
PDSCH sử dụng cùng cấu trúc cụm như của DPCH. Thông tin liên quan đến điều khiển
công suất hoặc các thiết lập an ten định hướng được lấy từ FACH và DCH. TFCI cũng có
thể phát trong PDSCH.
Kênh chỉ thị tìm gọi

32
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

PICH mang các chỉ thị tìm gọi. Nó luôn được phát với cùng mức công suất chuẩn và
cùng mẫu an ten như đối với P-CCPCH. Cùng định dạng cụm được sử dụng cho PICH
trong toàn bộ tế bào.
8.11 Trải phổ và điều chế
Sau khi các kênhvật lí đã được định dạng thì chúng sẵn sàng để phát. Việc phát các kênh
vật lí gồm hai quá trình: trải phổ và điều chế. Trải phổ gồm các động tác sau: kênh hóa và
xáo trộn. Thao tác phân kênh biến đổi mỗi symbol thành 1 số chip, xác định bởi hệ số trải
và như vậy tăng dải thông tín hiệu. Trong thao tác xáo trộn, tín hiệu đã trải được nhân
tiếp với mã xáo trộn. Các thủ tục này là như nhau đối với UTRA FDD, UTRA TDD-3.84
và UTRA TDD-1.28, với đặc biệt là trong UTRA TDD phần giữa không được trải. Dãy
chíp tạo bởi quá trình trải được điều chế QPSK. Trong quá trình điều chế, phần thực và
phần ảo của tín hiệu trải được tạo dạng xung 1 cách độc lập và được nhân với sóng mang
cùng pha và sóng mang vuông pha tương ứng. Phương pháp tạo dạng xung sử dụng lọc
cosin nâng căn bậc hai với hệ số uốn 0.22. Hình 8.13 minh họa quá trình phát trong
UTRA. Quá trình trải của UTRA FDD sẽ được trình bày chi tiết ở đây. Trong quá trình
này các kênh vật lí nhị phân cần trải được biểu diễn bởi các dãy thực trong đó 0 nhị phân
được ánh xạ thành giá trị thực +1, còn 1 nhị phân được ánh xạ thành giá trị thực -1.

8.11.1 Trải phổ đường lên


Trải DPCCH/DPDCH
Một DPCCH và nhiều nhất 6 DPDCH song song có thể phát đi đồng thời như sau.
DPCCH được trải thành tốc độ chip bằng mã phân kênh điều khiển (Cc), trong khi mỗi
DPDCH được trải lên tốc độ chip bằng mã phân kênh dữ liệu riêng
. Các tín hiệu trải thực được nhân với hệ số khuếch đại
( Gc đối với DPCCH và Gd đối với DPDCH). Tỉ số Gc / Gd được lượng tử hóa thành các
từ 4 bít. Do đó 16 tỉ số khuếch đại có thể biểu diễn và chúng là 15/15, 14/15,...,0/15. Các
luồng có trọng số của các chíp thực trên các nhánh cùng pha I và vuông pha Q được cộng
lại và xử lí như luồng chip phức. Luồng chip phức được được xáo trộn bằng mã xáo trộn
phức S DPCH ,n đồng chỉnh với các khung vô tuyến (chip xáo trộn đầu tiên bắt đầu ở đầu của
khung vô tuyến). Hình 8.14 minh họa quá trình trải DPCCH/DPDCH.

33
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Trải PRACH
Phần thông báo PRACH được chia thành phần dữ liệu (PRACH MDP) và phần điều
khiển (PRACH MCP). Hai phần này có các mã phân kênh khác nhau và hệ số khuếch đại
khác nhau. Mã phân kênh và hệ số khuếch đại đối với PRACH MDP tương ứng là Cd và
Gd , còn đối với PRACH MCP là Cc và Gc . Tỉ số Gc / Gd được lượng tử hóa thành các
từ 4 bít. Do đó 16 tỉ số khuếch đại có thể biểu diễn và chúng là 15/15, 14/15,...,0/15. Các
luồng có trọng số của các chíp thực trên các nhánh cùng pha I và vuông pha Q được cộng
lại và xử lí như luồng chip phức. Luồng chip phức được được xáo trộn bằng mã xáo trộn
phức S PRACH ,n dài 10 ms, đồng chỉnh với phần thông báo 10 ms của các khung vô tuyến
(chip xáo trộn đầu tiên bắt đầu ở đầu của khung vô tuyến thông báo). Hình 8.15 minh họa
quá trình trải PRACH.
Trải PCPCH
Phần thông báo PCPCH được chia thành phần dữ liệu (PCPCH MDP) và phần điều khiển
(PCPCH MCP). Hai phần này có các mã phân kênh khác nhau và hệ số khuếch đại khác
nhau. Mã phân kênh và hệ số khuếch đại đối với PCPCH MDP tương ứng là Cd và Gd ,
còn đối với PCPCH MCP là Cc và Gc . Tỉ số Gc / Gd được lượng tử hóa thành các từ 4
bít. Do đó 16 tỉ số khuếch đại có thể biểu diễn và chúng là 15/15, 14/15,...,0/15. Các
luồng có trọng số của các chíp thực trên các nhánh cùng pha I và vuông pha Q được cộng
lại và xử lí như luồng chip phức. Luồng chip phức được được xáo trộn bằng mã xáo trộn

34
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

phức S PCPCH ,n dài 10 ms, đồng chỉnh với phần thông báo 10 ms của các khung vô tuyến
(chip xáo trộn đầu tiên bắt đầu ở đầu của khung vô tuyến thông báo). Hình 8.16 minh họa
quá trình trải PCPCH.

8.11.2 Trải phổ đường xuống


Trừ SCH, thao tác trải phổ là như nhau đối với tất cả các kênh vật lí đường xuống, cụ thể
là P-CCPCH, S-CCPCH, CPICH, AICH, PICH, PDSCH, và DPCH đường xuống. Trừ
các symbol AICH, các symbol các kênh vật lí không trải có thể nhận các giá trị +1, -1 và
0, giá trị 0 chỉ ra rằng phát không liên tục. Còn đối với AICH, các giá trị symbol của nó
phụ thuộc vào tổ hợp chính xác của các chỉ thị bắt.
Quá trình trải của các kênh nầy như sau (trừ SCH). Mỗi cặp hai symbol liên tiếp được
biến đổi nối tiếp – song song, sau đó các symbol đánh số chẵn và các symbol đánh số lẻ
được ánh xạ tương ứng lên nhánh I và nhánh Q. Mỗi nhánh sau đó được trải lên tốc độ
chip bằng cùng mã phân kênh Cm . Luồng chip giá trị thực trên các nhánh cùng pha và

35
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

vuông pha được cộng lại và được xử lí như luồng chip giá trị phức. Luồng chip giá trị
phức được xáo trộn bởi mã xáo trộn giá trị phức Sd w, n . Mã này đối với bất kì kênh đường
xuống nào cũng luôn được áp dụng với đồng chỉnh của nó chuẩn theo đồng chỉnh của mã
xáo trộn dùng cho P-CCPCH. Mã xáo trộn của P-CCPCH được đồng chỉnh với biên giới
khung P-CCPCH (chip phức đầu tiên của khung P-CCPCH đã trải được ghép với chíp số
0 của mã xáo trộn).
Các kênh đường xuống sau đó được kết hợp, với mỗi kênh đường xuống được lấy trọng
số bởi hệ số khuếch đại khác nhau Gi . Các kênh đồng bộ P-SCH và S-SCH được nhân
với các hệ số khuếch đại tương ứng G p và Gs . Hình 8.17 minh họa quá trình trải và kết
hợp đường xuống.

8.12 Các mã trải


Các mục sau đây mô tả các thao tác phân kênh và xáo trộn với tập trung chủ yếu và công
nghệ UTRA FDD.
8.12.1 Các mã phân kênh
Các mã phân kênh được dùng trong UTRA (cả 3 công nghệ) được gọi là các mã trải biến
đổi trực giao (OVSF). Các kênh đường lên và đường xuống sử dụng các mã OVSF, các
mã này giữ nguyên tính trực giao giữa các kênh có tốc độ khác nhau và hệ số trải khác
nhau. Chúng có thể được xác định như sau

36
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Trong đó Cspreading _ factor , k nhận dạng duy nhất mã và 0 ≤ k ≤ hệ số trải – 1. Cây mã hình
8.18 minh họa các mã OVSF, giá trị tận cùng trái trong mỗi từ mã phân kênh tương ứng
với chip được phát đầu tiên theo thời gian.

8.12.2 Các mã xáo trộn đường lên


Các kênh vật lí đường lên sử dụng các mã xáo trộn phức để xáo trộn. Hai loại mã xáo
trộn có thể sử dụng: mã xáo trộn dài và mã xáo trộn ngắn. Mã dài được thực hiện khi máy
thu RAKE được dùng để thu. Mã ngắn được dùng khi các bộ tách sóng đa người dùng tân
tiến hoặc các máy thu khử nhiễu được dùng để thu. Lựa chọn thứ 2 hay dùng hơn để dễ
24 24
thực hiện các cấu trúc máy thu tân tiến. Có 2[ ] mã xáo trộn dài và 2[ ] mã xáo trộn
ngắn và chúng được gán bởi các lớp cao hơn.
Các mã xáo trộn dài có độ dài 38,400 chip và được hình thành bởi các dãy xáo trộn dài.
Các dãy xáo trộn này được tạo nên bằng cách kết hợp 2 dãy, x và y, với dãy 1 có đa thức
nguyên thủy

Dãy 2 có đa thức sinh nguyên thủy

Các dãy kết quả tạo thành các đoạn của dãy Gold. Một vài dãy mã xáo trộn nhận được
bằng cách thực hiện thích hợp các phép cộng các phiên bản dịch của 2 dãy. Cấu hình của

37
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

các bộ tạo mã xáo trộn dài đường lên như trong hình 8.19. Dãy xáo trộn dài phức thứ n
Clong , n được cho bởi

25]
Trong đó i = 0,1,..., 2[ − 2 , . chỉ sự làm tròn đến số nguyên thấp hơn gần nhất và

38
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

zn (i ), xn (i ), y (i ) chỉ symbol thứ i của các dãy zn (i ), xn (i ), y (i ) với x và y được xây dựng
bằng các đa thức nguyên thủy tương ứng đã xác định ở trên. Các dãy thực tế phụ thuộc
vào chọn điều kiện ban đầu.
Các mã xáo trộn ngắn dài 256 chip và được tạo thành nhờ các dãy xáo trộn ngắn. Các dãy
xáo trộn này hình thành bằng cách kết hợp 3 dãy a, b, c với a tạo ra bởi đa thức

b tạo ra bởi đa thức

c tạo ra bởi đa thức

Một vài dãy mã xáo trộn nhận được bằng cách thực hiện thích hợp các phép cộng các
phiên bản dịch của 3 dãy. Cấu hình của các bộ tạo mã xáo trộn ngắn đường lên như trong
hình 8.20, tại đây bộ ánh xạ cung cấp sự ánh xạ từ zn (i ) = 0,1, 2,3 lên các dãy nhị phân
lối ra
(+1,+1), (-1,+1), (+1,-1) và (-
1,-1). Dãy xáo trộn ngắn thứ n Cshort, n được cho bởi

ở đây i = 0,1,..., 254 , . chỉ sự làm tròn đến số nguyên thấp hơn gần nhất và

ở đây a (i ), b(i ), c(i ) chỉ symbol thứ i của các dãy a, b, c, được xây dựng trên đa thức
nguyên thủy nêu trên.
Một số dãy xáo trộn đối với các kênh vật lí khác nhau được xác định như sau. DPCCH và
DPDCH có thể sử dụng các mã xáo trộn dài hoặc ngắn. Mã xáo trộn dài đường lên thứ n
Slong , n (i ) được cho bởi

Mã xáo trộn ngắn đường lên thứ n S short, n (i ) được cho bởi

Trong cả hai trường hợp i = 0,1,...,38399 . Phần thông báo của PRACH sử dụng mã xáo
trộn 10 ms được chọn trong số 8192 mã xáo trộn. Mã xáo trộn thứ n trong trường hợp này
được cho bởi

39
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

ở đây i = 0,1,...,38399 . Phần thông báo của PCPCH có thể sử dụng 1 trong 32768 mã
xáo trộn. Các mã này dài 10 ms và chia thành 512 nhóm mỗi nhóm chứa 64 mã và được
phân bổ cho tế bào khác nhau. Có thể dùng mã dài hoặc mã ngắn. Mã xáo trộn dài đường
lên thứ n Slong , n (i ) được cho bởi

Mã xáo trộn ngắn đường lên thứ n S short, n (i ) được cho bởi

Trong cả hai trường hợp i = 0,1,...,38399 và n = 8192, 8193, ...., 40959.


8.12.3 Các mã xáo trộn đường xuống
Một số lượng đáng kể các mã xáo trộn ( 218 − 1 = 262.143 ) có thể tạo ra cho đường xuống,
mặc dù không phải tất cả chúng đều được sử dụng. Các mã xáo trộn này được chia thành
512 tập, mỗi tập chứa 1 PSC và 15 SSC. Ánh xạ một – một giữa mỗi PSC và 15 SSC
được cung cấp. Tập các PSC được chia tiếp thành 64 nhóm mã xáo trộn.
Cấu trúc của các dãy mã được dựa trên sự kết hợp của 2 dãy thực, x và y, thành một dãy
phức. Một trong các dãy này, x , được tạo nên nhờ đa thức nguyên thủy sau

40
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Còn dãy kia, y , sử dụng đa thức nguyên thủy sau

Các dãy nhận được tạo thành các đoạn của dãy Gold và các mã xáo trộn nhận được được
lặp lại cứ mỗi 10 ms. Một vài dãy mã xáo trộn nhận được bằng phép cộng thích hợp các
phiên bản dịch của 2 dãy. Cấu hình của bộ tạo mã xáo trộn đường xuống được cho trên
hình 8.21. Dãy mã xáo trộn phức thứ n Sn (i ) được cho bởi

ở đây i = 0, 1, ..., 38399 và

ở đây zn (i ), x(i ), y (i ) chỉ symbol thứ i của các dãy zn , x, y với x, y tạo nên bằng đa thức
nguyên thủy nêu trên. Các dãy thực tế phụ thuộc vào việc lựa chọn điều kiện ban đầu.
Mỗi tế bào được phân bổ 1 và chỉ 1 PSC. Cụ thể, các kênh vật lí P-CCPCH, P-CPICH,
PICH, AICH, AP-AICH, CD/CA-ICH, CSICH và S-CCPCH mang PCH sử dụng PSC
phân bổ cho tế bào tương ứng. Các kênh vật lí đường xuống còn lại của tế bào có thể sử
dụng PSC hoặc một SSC của tập liên kết với PSC của tế bào. Cũng có thể hỗn hợp PSC
và SSC cho 1 CCTrCH.

Cũng có các mã đồng bộ. Cụ thể, có 1 mã đồng bộ sơ cấp và 16 mã đồng bộ thứ cấp. Mã
đồng bộ sơ cấp được xây dựng như dãy Golay phân cấp và được chọn để biểu diễn các

41
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

tính chất tự tương quan phi chu kì tốt. Đây là dãy phức với các thành phần thực và ảo
giông nhau và được cho bởi

ở đây

Tất cả 16 mã đồng bộ thứ cấp đều là phức, với các thành phần thực và ảo giống nhau. Mã
đồng bộ thứ cấp thứ k, k = 1, 2, ..., 16 được cho bởi

ở đây m = 16(k – 1), hm (i ), z (i ) chỉ symbol thứ i trong dãy hm và z; hm ứng với dãy cho
bởi hàng thứ m của ma trận Hadamard, xác định như sau

Với

8.13 Các thủ tục UTRA


Phần này mô tả một số thủ tục sử dụng trong UTRA. Mặc dù phần lớn các mô tả ở đây áp
dụng cho UTRA FDD, các thủ tục tương đương cũng tìm được trong UTRA TDD. Một
số thủ tục riêng cho UTRA TDD cũng được mô tả.
8.13.1 Tìm kiếm tế bào
Thủ tục tìm kiếm tế bào được thực hiện bởi UE, nó gồm tìm kiếm tế bào và xác định mã
xáo trộn đường xuống và đồng bộ khung kênh chung của tế bào đó. Thông thường 3 bước
sau đây được thực hiện trong thủ tục tìm kiếm tế bào:
1. Đồng bộ khe. UE sử dụng mã đồng bộ sơ cấp của SCH, đây là mã chung cho tất
cả các tế bào, để bắt đồng bộ khe của tế bào. Bộ lọc phối hợp có thể sử dụng cho
mục đích này và định thời khe có thể nhận được bằng cách phát hiện các đỉnh ở
lối ra bộ lọc.
2. Đồng bộ khung và nhận dạng nhóm mã. UE sử dụng mã đồng bộ thứ cấp để bắt
đồng bộ khung và nhận dạng nhóm mã của tế bào tìm được trong bước trước.
Điều này được thực hiện bằng cách lấy tương quan tất cả các dãy SSC có thể với
tín hiệu thu được và nhận dạng lối ra tương quan cực đại. Điều này đạt được bởi
vì các dịch vòng của dãy là duy nhất.
3. Nhận dạng mã xáo trộn. UE xác định PSC được dùng bởi tế bào tìm được trong
bước 1. Điều này được thực hiện bằng lấy tương quan theo từng symbol trên
CPICH với tất cả các mã trong nhóm mã nhận dạng trong bước 2. P-CCPCH bây
giờ có thể được phát hiện và có thể đọc thông tin BCH đặc trưng cho tế bào hoặc
hệ thống.

42
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Nếu thông tin về các mã xáo trộn nào cần phải tìm kiếm đã được cung cấp, hai bước sau
cùng có thể đơn giản bớt.
8.13.2 Đồng bộ kênh vật lí chung
Định thời khung vô tuyến của tất cả các kênh vật lí chung liên quan đến định thời khung
vô tuyến của P-CCPCH, được xác định trong thủ tục tìm kiếm tế bào. Do đó, sau khi tìm
kiếm tế bào tất cả các kênh vật lí chung đều có thể xác định định thời khung vô tuyến của
chúng.
8.13.3 Thiết lập kết nối vô tuyến và giám sát
Tập kết nối vô tuyến nút B có thể ở 1 trong 3 trạng thái có thể: trạng thái khởi đầu, trạng
thái đồng bộ và trạng thái mất đồng bộ. Biểu đồ chuyển đổi trạng thái tương ứng được
minh họa trên hình 8.22. Việc thiết lập kết nối vô tuyến thay đổi tùy thuộc vào kết nối đó
đã tồn tại hay chưa. Nếu không có kết nối vô tuyến nào tồn tại, thì thủ tục sau được thực
hiện:
• Các tập kết nối vô tuyến cần phải thiết lập được coi là ở trạng thái khởi đầu.
DPCCH đường xuống bắt đầu được phát, và nếu như có bất kì dữ liệu nào cần
phát thì việc phát DPDCH đường xuống cũng được bắt đầu.
• UE sử dụng định thời P-CCPCH và thông tin dịch thời nhận được từ UTRAN để
thiết lập đông bộ chip đường xuống và đồng bộ khung của DPCCH.
• DPCCH đường lên bắt đầu được phát sau khi các lớp cao coi kênh vật lí đường
xuống đã được thiết lập và đã đến lúc báo hiệu kích hoạt cho UE (nếu có).
• Đồng bộ khung và đồng bộ chip đường lên được thiết lập bởi UTRAN. Sau khi
nhận được 1 số chỉ thị đồng bộ liên tiếp từ lớp 1, nút B kích hoạt thủ tục khôi
phục RL chỉ ra tập kết nối vô tuyến nào đã nhận được đồng bộ. Sau đó tập kết nối
vô tuyến tương ứng được coi là ở trong trạng thái đồng bộ.

Nếu kết nối vô tuyến đã tồn tại, thủ tục tương tự được tiếp tục, nhưng có điểm khác là
nếu kết nối vô tuyến được bổ xung vào kết nối vô tuyến hiện có thì tập kết nối vô tuyến
này được coi là ở trong trạng thái của tập kết nối vô tuyến trước khi bổ xung thêm kết
nối.
Sau khi các kết nối vô tuyến được thiết lập, thủ tục giám sát kết nối được tiếp theo bởi
UE và nút B sao cho việc quản lí thất bại/khôi phục được tiến hành. Trong trường hợp
thất bại, nút B kích hoạt thủ tục thất bại RL chỉ ra rằng tập kết nối vô tuyến tương ứng
được coi là ở trong trạng thái mất đồng bộ. Các kết nối vô tuyến đường xuống được giám
sát bởi UE. Trong điều kiện trạng thái ổn định, trạng thái mất đồng bộ sẽ được báo cáo
bởi UE nếu 1 trong các tiêu chuẩn sau được thực hiện:

43
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Chất lượng của DPCCH được ước lượng trên khỏng 160 ms trước đó là xấu hơn
ngưỡng nhất định.
• Tất cả các khối vận tải với CRC đính kèm, thu được trên khoảng 160 ms trước
đó và 20 khối thu được gần nhất với CRC đính kèm, biểu hiện CRC không
chính xác.
Trong điều kiện trạng thái ổn định, điều kiện đồng bộ sẽ được báo cáo bởi UE nếu cả hai
tiêu chuẩn sau được thực hiện:
• Chất lượng của DPCCH, được ước lượng trên chu kì 160 ms trước, là chấp nhận
được.
• Ít nhất một khối vận tải với CRC đính kèm, thu được trong TTI kết thúc ở khung
hiện thời với CRC chính xác.
Các kết nối vô tuyến đường lên được giám sát bởi nút B. Trạng thái đồng bộ của tất cả
các tập kết nối vô tuyến sẽ được kiểm tra bởi lớp 1 trong nút B trong mỗi khung.
Primitives được sử dụng để chỉ thị trạng thái như vậy cho các chức năng kích hoạt thất
bại/khôi phục RL. Chỉ một chỉ thị trạng thái đồng bộ là tồn tại trên tập kết nối vô tuyến.
Các tiêu chuẩn được dùng để chỉ thị các điều kiện đồng bộ và mất đồng bộ không có
trong đặc tả.
8.13.4 Thu DPDCH và DPCCH đường lên
Khi thu các kênh dành riêng đường lên, cụ thể là DPDCH và DPCCH, các nhiệm vụ sau
đây được thực hiện bởi máy thu trạm gốc:
• Giải trải DPCCH và đệm DPDCH sử dụng tốc độ bít cực đại (hệ số trải nhỏ
nhất).
• Ước lượng kênh từ các bít dẫn đường thu được trên DPCCH (mỗi khe).
• Phát lệnh TPC theo hướng đường xuống để điều khiển công suất phát đường lên
(mỗi khe).
• Giải mã các bít TPC để điều chỉnh công suất đường xuống đối với kết nối tương
ứng (mỗi khe).
• Giải mã các bít FBI và điều chỉnh các pha của an ten phân tập, hoặc các pha và
các biên độ, theo phương thức phân tập phát (trên hai hoặc 4 khe).
• Giải mã thông tin TFCI từ DPCCH để phát hiện tốc độ bít và các tham số giải mã
kênh đối với DPDCH (cứ mỗi khung 10 ms).
• Giải mã DPDCH theo TTI (10, 20, 40, hoặc 80 ms).
Việc thu theo hướng đường xuống bao gồm các chức năng như đã miêu tả ở trên, nhưng
cần chú ý 1 số đặc điểm:
• Các kênh vật lí dành riêng DPDCH và DPCCH có hệ số trải không đổi, nhưng
DSCH có hệ số trải thay đổi.
• Các bít FBI không xuất hiện ở đường xuống.
• Kênh dẫn đường chung được dùng bổ xung cho các bít dẫn đường trên DPCCH.
• Trong trường hợp phân tập phát, UE thu các mẫu dẫn đường từ hai an ten và ước
lượng kênh được thực hiện với 2 mẫu này.
8.13.5 Điều khiển công suất đường lên
Điều khiển công suất vòng trong đường lên được dùng cho các kênh vật lí đường lên.
PRACH trong thủ tục truy nhập ngẫu nhiên và PCPCH trong thủ tục truy nhập CPCH sử
dụng các thuật toán điều khiển công suất riêng. Thủ tục điều khiển công suất được dùng
đối với PCPCH tương tự như đối với DPCCH/DPDCH.

44
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

Công suất phát ban đầu của DPCCH và độ lệch công suất phát tương đối giữa DPCCH và
DPDCH được đặt bởi các lớp cao. Các điều chỉnh mức công suất tiếp theo thông qua thủ
tục điều khiển công suất ảnh hưởng như nhau đến cả hai kênh do đó công suất phát tương
đối giữa các kênh này được duy trì. Công suất phát UE được điều chỉnh để duy trì tỉ số
tín/nhiễu đường lên thu được (SIR) tại nút B cao hơn SIR mục tiêu (SIR target). Muốn
vậy, tế bào trong tập tích cực (tế bào phục vụ) ước lượng SIR của DPCH thu được (SIR
estimate). Sau đó các lệnh TPC được tạo ra bởi các tế bào phục vụ và phát 1 lần trên khe
như sau:
• Nếu SIR estimate > SIR target, thì TPC được đặt về 0.
• Nếu SIR estimate < SIR target, thì TPC được đặt về 1.
UE thu một hoặc nhiều lệnh TPC trên khe và suy ra một lệnh TPC trên khe (TPC_cmd).
Công suất phát khi đó được điều chỉnh với bước ∆ adjust = ∆TPC × TPC _ cmd , theo dB, ở
đây ∆TPC là kích cỡ bước theo dB và là tham số lớp 1 (1 hoặc 2 dB).
8.13.6 Điều khiển công suất đường xuống
Các kênh đường xuống có công suất phát được xác định bởi mạng. Mặt khác, có 1 số qui
tắc liên quan đến tỉ số công suất phát giữa các kênh đường xuống khác nhau, được mô tả
vắn tắt sau đây.
DPCCH/DPDCH
Hai kênh này có cùng thủ tục điều khiển công suất, và công suất tương đối giữa hai kênh
này được xác định bởi mạng và không bị ảnh hưởng bởi thuật toán điều khiển công suất.
Trong quá trình điều khiển công suất, UE không thực hiện bất kì giả định nào về việc
điều khiển công suất đường xuống được đặt bởi UTRAN như thế nào. UE giúp đỡ
UTRAN trong quá trình này bằng cách đánh giá SIR đường xuống và đề nghị tăng hay
giảm công suất phát. SIR được đánh giá nhờ các bít dẫn đường thu được trong DPCCH
tại UE. Lệnh TPC được tạo ra và gửi đi trong trường TPC hiện có đầu tiên trong DPCCH
đường lên trong mỗi khe. Thực ra, tùy thuộc vào phương thức hoạt động đặt bởi UTRAN,
lệnh TPC duy nhất trong mỗi khe được gửi đi hoặc cùng lệnh TPC được gửi đi trên 3 khe.
Mục đích cụ thể là giữ SIR thu được cao hơn SIR mục tiêu. Vòng ngoài lớp cao điều
chỉnh SIR target một cách độc lập đối với mỗi kết nối. UE ước lượng công suất
DPCCH/DPDCH đường xuống thu được cũng như mức nhiễu thu được, từ đó xác định
SIR estimate. Các lệnh TPC được tạo ra như sau:
• Nếu SIR estimate > SIR target, thì TPC được đặt về 0, yêu cầu giảm công suất
phát.
• Nếu SIR estimate < SIR target, thì lệnh TPC được đặt về 1, yêu cầu tăng công
suất phát.
Khi nhận được các lệnh TPC, công suất DPCCH/DPDCH đường xuống được điều chỉnh
tương ứng. Trong trường hợp 1 lệnh TPC duy nhất, công suất được cập nhật tại mỗi khe.
Trong trường hợp 3 lệnh TPC, một ước lượng của các lệnh TPC được thực hiện trên 3
khe và công suất được cập nhật tương ứng tại mỗi 3 khe. Sau đó công suất đường xuống
được điều chỉnh về giá trị mới công suất mới P(k). Điều này nhận được như hàm của
công suất hiện thời P(k – 1), của điều chỉnh công suất thứ k do điều khiển công suất vòng
trong PTPC ( k ) , và của hiệu chỉnh Pbal ( k ) . Sự hiệu chỉnh như vậy nhận được theo thủ tục
điều khiển công suất đường xuống nhằm cân bằng các công suất kết nối vô tuyến hướng
tới công suất chuẩn chung. Hàm điều khiển công suất được xác định bởi

45
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

ở đây tất cả các phần tử được tính theo dB. Công suất hiệu chỉnh là

ở đây 0 ≤ r ≤ 1 là hệ số hội tụ, PREF là công suất phát chuẩn tính bằng dBm (báo hiệu bởi
lớp cao), PBAL, max là giới hạn thay đổi công suất tối đa đối với điều khiển cân bằng công
suất kết nối vô tuyến (báo hiệu bởi các lớp cao và được đặt là bội của kích cỡ bước điều
khiển công suất ∆ TPC ) và sgn(x) là hàm dấu (= -1, 0, +1 nếu x < 0, x = 0, x > 0 tương
ứng). Công suất phát thực tế phải đặt sao cho càng gần với P(i) càng tốt. PTPC(k) chấp
nhận các giá trị + ∆ TPC , 0, - ∆ TPC tùy thuộc vào TPC ước lượng hiện thời, vào PTPC(k) lấy
trung bình trên cửa sổ kích cỡ nhất định, và vào ∆ TPC . Kích cỡ bước điều khiển công suất
∆ TPC có thể nhận các giá trị sau: 0.5, 1, 1.5, và 2 dB.
PDSCH
Điều khiển công suất PDSCH có thể thực hiện bằng 1 trong các tùy chọn sau: ĐKCS
vòng trong dựa trên các lệnh ĐKCS gửi đi bởi UE trên DPCCH đường lên hoặc ĐKCS
chậm.
AICH, PICH, CSICH
Các lớp cao thông báo cho UE về công suất tương đối của AICH, PICH và CSICH so với
công suất phát P-CPICH. Công suất của các kênh này được đo như công suất trên chỉ thị
bắt phát (đối với AICH), như công suất trên chỉ thị tìm gọi (đối với PICH) và như công
suất trên chỉ thị tình trạng phát (đối với CSICH).
S-CCPCH
Công suất của trường dữ liệu và của TFCI cũng như của trường dẫn đường có thể lệch và
độ lệch này có thể thay đổi theo thời gian.
8.13.7 Thủ tục tìm gọi
Sau khi đãddawng kí trong mạng, UE được phân bổ một nhóm tìm gọi với các chỉ thị tìm
gọi dành riêng. Các chỉ thị tìm gọi này được phát tuần hoàn trên PICH để chỉ sự có mặt
của thông báo tìm gọi thuộc nhóm tìm gọi đó. Sau khi phát hiện ra PI, UE sẽ giải mã
khung PCH tiếp theo xuất hiện trên S-CCPCH. Thông báo tìm gọi xuất hiện trên S-
CCPCH 7680 chíp sau khi kết thúc phát các chỉ thị tìm gọi trên PICH. Chú ý rằng tần số
mà PI được phát có tác động trực tiếp đến tuổi thọ pin của UE. Đó là do để phát hiện các
PI này UE phải rời khỏi phương thức tiết kiệm pin (chế độ ngủ).
8.13.8 Thủ tục truy nhập ngẫu nhiên
Thủ tục truy nhập ngẫu nhiên được khởi xướng bởi UE theo yêu cầu xuất phát từ lớp con
MAC. Trước khi thủ tục như vậy có thể bắt đầu, một vài thông tin phải có sẵn cho lớp 1
từ RRC. Đó là:
• Mã xáo trộn mào đầu
• Độ dài thông báo (10 hay 20 ms)
• Tập các kênh con RACH có sẵn (trong số 12 kênh con RACH) đối với mỗi lớp
dịch vụ truy nhập
• Tập các chữ kí có sẵn đối với mỗi lớp dịch vụ truy nhập
• Hệ số điều chỉnh công suất
• Số lần phát lại các mào đầu
• Công suất mào đầu ban đầu, lệch công suất giữa công suất mào đầu

46
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Công suất thông báo truy nhập ngẫu nhiên


Khi khởi xướng thủ tục truy nhập ngẫu nhiên, thông tin sau đây sẽ có sẵn đối với lớp 1 từ
MAC:
• Định dạng vận tải đối với phần thông báo của PRACH
• Lớp dịch vụ truy nhập của phát PRACH
• Tập các khối vận tải (dữ liệu) cần phát
Thủ tục truy nhập ngẫu nhiên gồm các bước chính sau đây:
1. Một khe truy nhập đường lên tương ứng với tập các kênh con RACH có sẵn được
chọn 1 cách ngẫu nhiên.
2. Một chữ kí từ tập các chữ kí có sẵn được chọn ngẫu nhiên.
3. Mào đầu sử dụng khe truy nhập đường lên đã chọn, chữ kí, và công suất phát mào
đầu được gửi đi.
4. AP-AICH được theo dõi để phát hiện chỉ thị bắt (AI).
5. Phát hiện AI. Nếu phát hiện được AI dương hoặc âm, thì các bước sau được thực
hiện.
• Khe truy nhập đường lên khác ứng với tập các kênh con RACH có sẵn được chọn
ngẫu nhiên.
• Chữ kí khác từ tập các chữ kí có sẵn được chọn ngẫu nhiên.
• Công suất phát ở bước hiệu chỉnh công suất được tăng lên. Nếu vượt quá công
suất phát tối đa cho phép 6 dB, tình trạng lớp 1 “không xác nhận trên AICH”
được chuyển cho lớp MAC và thủ tục truy nhập ngẫu nhiên được kết thúc.
• Số lần phát lại đã đạt đến hay chưa được kiểm tra. Trong trường hợp dương, tình
trạng lớp 1 “không xác nhận trên AICH” được chuyển cho lớp MAC và thủ tục
truy nhập ngẫu nhiên được kết thúc. Trong trường hợp âm, lặp lại từ bước 3.
6. Phát hiện AI. Nếu phát hiện được AI âm, thì tình trạng lớp 1 “Xác nhận âm trên
AICH thu được” được chuyển cho lớp MAC và thủ tục truy nhập ngẫu nhiên kết
thúc.
7. Phát hiện AI. Nếu phát hiện được AI dương, thông báo truy nhập ngẫu nhiên
được phát 3 hoặc 4 khe truy nhập đường lên sau khe truy nhập đường lên của mào
đầu phát, tùy thuộc vào tham số định thời phát AICH.
8. Thoát ra thành công. Tình trạng lớp 1 “Thông báo RACH được phát” được
chuyển cho lớp MAC và thủ tục truy nhập ngẫu nhiên được kết thúc.
8.13.9 Thủ tục truy nhập CPCH
Thủ tục truy nhập CPCH được khởi xướng bởi UE theo yêu cầu xuất phát từ lớp con
MAC. Trước khi thủ tục như vậy được khởi xướng, một vài thông tin phải có sẵn cho lớp
1 từ RRC. Thông tin như vậy có sẵn trong thông báo thông tin hệ thống đối với mỗi
PCPCH trong tập CPCH phân bổ cho tế bào, bao gồm:
• Mã xáo trộn mào đầu truy nhập (AP) đường lên.
• Tập chữ kí mào đầu đường lên.
• Nhóm kênh con khe mào đầu truy nhập
• Mã phân kênh mào đầu AP-AICH.
• Mã xáo trộn mào đầu phát hiện va chạm (CD) đường lên.
• Chữ kí mào đầu CD.
• Nhóm kênh con khe mào đầu CD.
• Mã phân kênh mào đầu CD-AICH.

47
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

• Mã xáo trộn đường lên CPCH.


• Mã phân kênh DL-DPCCH.
Một số tham số lớp vật lí là có sẵn bởi RRC và lớp MAC:
• Số cực đại các mào đầu phát lại.
• Mức công suất vòng hở ban đầu, kích cỡ bước công suất.
• Tham số định thời phát CPCH.
• Độ dài của mào đầu ĐKCS (0 hoặc 8 khe).
• Số khung để phát phần đầu của chỉ thị thông báo trong DL-DPCCH đối với
CPCH.
• Tập các tham số định dạng vận tải.
• Định dạng vận tải của phần thông báo.
• Dữ liệu cần phát.
Năng suất của truy nhập CPCH được cải thiện bằng việc sử dụng CSICH. CSICH là kênh
đường xuống riêng biệt dùng để chỉ thị tình trạng bị chiếm của các PCPCH khác nhau.
Việc sử dụng CSICH tránh được các cố gắng truy nhập không cần thiết khi tất cả PCPCH
đều bị chiếm. Cải thiện hơn nữa có thể đạt được với sự kích hoạt chức năng gán kênh
(CA). Trong trường hợp đó, ngoài chỉ thị chiếm các kênh PCPCH khác nhau, CSICH
cũng mang thông báo CA, báo tốc độ dữ liệu cực đại của mỗi PCPCH.
Thông báo CA được phát đi song song với thông báo CD. Các bước chính sau đây tạo
thành thủ tục truy nhập CPCH, với giả thiết là chức năng CA tích cực.
1. Các chỉ thị tình trạng của CSICH được phát hiện. Nếu tốc độ dữ liệu tối đa nhỏ
hơn tốc độ dữ liệu yêu cầu, thử truy nhập được bỏ qua và thông báo thất bại được
chuyển cho lớp MAC. Tính sẵn sàng của mỗi PCPCH được giữ nguyên.
2. Chữ kí CPCH-AP từ tập các chữ kí có sẵn được chọn ngẫu nhiên.
3. Khe truy nhập đường lên từ các khe truy nhập CPCH-AP có sẵn được chọn ngẫu
nhiên.
4. AP sử dụng khe truy nhập đường lên đã chọn, chữ kí, và công suất phát mào đầu
được phát đi.
5. AP-AICH được giám sát để phát hiện chỉ thị bắt (AI).
6. Phát hiện AI. Nếu không phát hiện được AI âm hoặc dương, UE thử giá trị của
lần phát gần nhất của chỉ thị tình trạng ứng với PCPCH được chọn ngay trước khi
phát AP. Nếu nó chỉ thị “không sẵn sàng”, thử truy nhập được bỏ qua và thông
báo thất bại được gửi đên lớp MAC. Nếu không, các bước sau được thực hiện:
• Chọn khe có sẵn tiếp theo trong nhóm kênh con được sử dụng. (Phân cách
cực tiểu 3 hoặc 4 khe truy nhập từ truyền dẫn cuối cùng phải tồn tại, tùy
thuộc vào tham số định thời phát).
• Tăng công suất phát lên một bước chỉ định.
• Kiểm tra xem có đạt tới số lần phát lại hay không. Trong trường hợp
dương, thông báo thất bại lớp 1 được truyền cho lớp MAC và thủ tục truy
nhập CPCH kết thúc.
7. Phát hiện AI, nếu phát hiện được AI âm, thông báo thất bại lớp 1 được truyền cho
lớp MAC và thủ tục truy nhập CPCH kết thúc.
8. Phát hiện AI, nếu phát hiện được AI dương, UE chọn ngẫu nhiên một chữ kí CD
và một khe truy nhập CD rồi phát mào đầu CD. Sau đó nó đợi CD/CA-ICH và
thông báo CA từ nút B.

48
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

9. Theo dõi CD/CA-ICH. Nếu UE không thu được CD/CA-ICH trong khe chỉ định
hoặc nếu nó thu được CD/CA-ICH trong khe chỉ định với chữ kí không phù hợp
với chữ kí sử dụng trong mào đầu CD, thì thông báo thất bại lớp 1 được truyền
cho lớp MAC và thủ tục truy nhập CPCH kết thúc.
10. Theo dõi CD/CA-ICH. Nếu UE thu được CD/CA-ICH trong khe chỉ định với chữ
kí phù hợp và thông báo CA chỉ ra 1 trong các PCPCH đã biết là rỗi, UE phát
mào đầu điều khiển công suất theo sau là phần thông báo của cụm. Nếu thông
báo CA chỉ ra PCPCH đã biết là bận, thì thông báo thất bại lớp 1 được truyền cho
lớp MAC và thủ tục truy nhập CPCH kết thúc.
11. Phát hiện Chỉ thị bắt đầu thông báo. UE giám sát một số khung chỉ ra bằng các
lớp cao trong DL-DPCCH đối với CPCH, để phát hiện chỉ thị bắt đầu thông báo,
dãy đã biết lặp lại trên cơ sở từng khung.
12. Phát hiện Chỉ thị bắt đầu thông báo, nếu không phát hiện được, thì thông báo thất
bại lớp 1 được truyền cho lớp MAC và thủ tục truy nhập CPCH kết thúc.
13. Phát hiện Chỉ thị bắt đầu thông báo, nếu phát hiện được thì việc phát liên tục dữ
liệu gói được thực hiện.
14. ĐKCS vòng trong. Trong khi truyền dẫn dữ liệu gói CPCH, PCPCH và DL-
DPCCH đường lên được điều khiển công suất vòng trong bởi UE và UTRAN.
15. Phát hiện Lệnh dừng khẩn cấp, nếu phát hiện được lệnh này gửi đi bởi UTRAN,
thì thông báo thất bại lớp 1 được truyền cho lớp MAC và thủ tục truy nhập
CPCH kết thúc.
16. Phát hiện Mất mát DL-DPCCH. Nếu phát hiện được mất mát này, thì UE dừng
phát CPCH, thông báo thất bại lớp 1 được truyền cho lớp MAC và thủ tục truy
nhập CPCH kết thúc.
17. Thoát ra thành công. Để chỉ thị kết thúc phát, một vài khung trống với con số đặt
bởi lớp cao được gửi đi.
8.13.10 Phân tập phát
Hai phương thức phân tập phát được xác định trong UTRA: vòng hở (OLM) và vòng kín
(CLM). Trong OLM, việc phát không phụ thuộc vào thông tin phản hồi từ UE. Trong
CLM, thông báo FBI có sẵn trên DPCCH đường lên được xác định sao cho việc phát có
thể điều chỉnh thích đáng tại UTRAN để tối đa công suất thu được tại UE.
Vòng hở
Hai kĩ thuật phân tập được dùng trong OLM: phân tập phát dựa trên mã khối không gian
thời gian (STTD) và phân tập phát chuyển mạch thời gian (TSTD). Trong STTD, việc mã
hóa được áp dụng trên các khối gồm 4 bít kênh liên tiếp. Sơ đồ khối chung của bộ mã hóa
STTD như hình 8.23. Mã hóa STTD là tùy chọn trong UTRAN và sự hỗ trợ STTD là bắt
buộc tại UE. Trong TSTD, các khe có thể nhảy từ an ten 1 sang an ten 2. Ví dụ, TSTD có
thể thực hiện với các khe đánh số chẵn phát trên an ten 1 và các khe lẻ trên an ten 2.
TSTD là tùy chọn trong UTRAN và hỗ trợ TSTD là bắt buộc tại UE.
Vòng kín
Sơ đồ khối chung hỗ trợ phân tập phát CLM như trên hình 8.24. Trong CLM, UE sử dụng
CPICH để ước lượng các kênh thu được từ mỗi an ten. Ước lượng như vậy được thực
hiện 1 lần cứ mỗi khe và dùng để tạo thông tin điều khiển gửi ngược lại cho UTRAN.
Các bít thông báo báo hiệu hồi tiếp sau đó được phát trên 1 phần của trường FBI của các
khe DPCCH đường lên. UTRAN xử lí truyền dẫn thông báo như vậy để điều chỉnh việc
phát thích đáng nhằm cực đại hóa công suất thu được ở UE. Tốc độ cập nhật là 1500 Hz

49
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

và tốc độ bít hồi tiếp là 1500 bít/s. Hai phương thức phân tập được xác định trong CLM:
phương thức 1 và phương thức 2.
Trong phương thức 1, các symbol dẫn đường dành riêng trực giao trong DPCCH được
phát trên cả hai an ten. UE ước lượng điều chỉnh pha tối ưu đối với an ten 2. Trong
trường hợp này, an ten 1 duy trì cùng pha trong khi pha của an ten 2 được biến đổi theo
yêu cầu UE. Việc điều chỉnh an ten 2 dựa trên trung bình trượt trên 2 lệnh hồi tiếp liên
tiếp (1 bít trên lệnh). Do đó có thể có 4 thiết lập khác nhau ( ±π / 2, ± π / 2 ) .

Trong phương thức 2, các symbol dẫn đường giống nhau trong DPCCH được phát trên cả
2 an ten. UE ước lượng pha tối ưu cũng như các điều chỉnh biên độ. Trung bình trượt
trong trường hợp này được thực hiện trên 4 lệnh hồi tiếp liên tiếp (1 bít trên lệnh); 1 bít

50
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

được dùng để điều chỉnh biên độ, còn 3 bít dùng để điều chỉnh pha. Các biên độ có thể
điều chỉnh đến 0.2 và 0.8 hoặc đến 0.8 và 0.2 đối với các an ten 1 và 2 tương ứng. Hiệu
pha giữa 2 an ten này có thể nhận đến 8 giá trị ( ±π , ±π / 4, ±π / 2, ±3π / 4 ) .
Phân tập phát
Các tiêu chuẩn sau được áp dụng cho phân tập phát:
• Không thể sử dụng đồng thời STTD và CLM trên cùng kênh vật lí.
• Áp dụng phân tập phát cho P-CCPCH và SCH bắt buộc nếu nó được dùng trên
bất kì kênh đường xuống nào khác.
• Phương thức phân tập phát dùng cho PDSCH giống như của DPCH đi kèm với
PDSCH này.
• Phương thức phát (OLM hay CLM) trên DPCH liên kết không thể thay đổi trong
thời gian khung PDSCH và trong khe trước khung PDSCH. Tuy nhiên, trong
CLM sự thay đổi giữa 2 phương thức 1 và 2 là được phép.
Ứng dụng có thể của phân tập phát cho vài kênh vật lí như sau. STTD (OLM) có thể áp
dụng cho P-CCPCH, S-CCPCH, DPCH, PICH, PDSCH, AICH và CSICH. TSTD chỉ có
thể áp dụng cho SCH. CLM có thể áp dụng cho DPCH và PDSCH.
Áp dụng TSTD cho SCH được tiến hành bằng cách phát các khe đánh số chẵn của cả hai
PSC và SSC trên an ten 1 và các khe đánh số lẻ của cả 2 PSC và SSC trên an ten 2. Nếu
OLM hoặc CLM được áp dụng cho kênh đường xuống bất kì, CPICH sẽ được phát từ cả
2 an ten sử dụng cùng mã xáo trộn và mã phân kênh. Trong trường hợp này, dãy symbol
đối với an ten 1 là A = 1 + j, như nhau đối với tất cả 10 khe con, trong khe và đối với tất
cả 15 khe trong khung; còn đối với an ten 2 dãy symbol là +A, -A, -A, +A, +A, -A, -A,
+A, +A, -A đối với 1 khe và phủ định của nó đối với khe tiếp theo v.v.. bắt đầu với dãy
symbol này cho khe 0. Nếu không dùng phân tập phát, mẫu phát đi trên an ten 1 được sao
chép lại trên an ten 2.
Trong UTRA TDD, hai sơ đồ phân tập phát khác được hỗ trợ như sau. Đối với các kênh
vật lí dành riêng, phân tập phát chuyển mạch (STD) và các an ten thích nghi phát (TxAA)
có thể áp dụng.
8.13.11 Thủ tục chuyển giao
UTRA có thể hỗ trợ chuyển giao giữa các phương thức, chuyển giao trong phương thức
và chuyển giao giữa các hệ thống.
Chuyển giao trong phương thức
Chuyển giao trong phương thức bao gồm các thủ tục chuyển giao trong mỗi phương thức
UTRA. Trong UTRA FDD, chuyển giao mềm, chuyển giao mềm hơn và chuyển giao
cứng được hỗ trợ. UTRA TDD không hỗ trợ chuyển giao mềm (hay phân tập macro).
Chuyển giao trong mode chủ yếu dựa vào ước lượng tỉ số năng lượng trên chip (Ec) và
công suất tạp âm (N0). Đặc biệt đối với UTRA FDD, các đại lượng yêu cầu có thể đo
được bởi UE dùng CPICH. Các symbol dẫn đường được dùng để ước lượng công suất mã
tín hiệu thu được (RSCP) (công suất thu được trên 1 mã sau giải trải). Kênh băng rộng
được dùng để ước lượng cường độ tín hiệu thu (RSSI). Tỉ số giữa công suất mã tín hiệu
thu được và tổng công suất thu được trong dải thông kênh (Ec/N0) nhận được như
RSCP/RSSI.
Định thời tương đối giữa các tế bào cũng là một tham số quan trọng cần có để điều chỉnh
định thời phát cho kết hợp coherent trong máy thu RAKE. Ước lượng xấu của tham số
này có thể gây khó dễ cho việc kết hợp các tín hiệu từ các trạm gốc khác nhau cũng như
việc ĐKCS trong chuyển giao mềm. Có thể điều chỉnh định thời đường xuống theo các

51
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

bước 256 chip và được thực hiện theo lệnh RNC. Trong cửa sổ 10 ms, định thời tương
đối giữa các tế bào có thể tìm được từ pha PSC (chú ý chu kì mã là 10 ms). Đối với độ
bất định thời gian lớn hơn giá trị này, số khung hệ thống (SFN) cần phải trích ra từ P-
CCPCH. Chuyển giao cứng không yêu cầu thông tin định thời chính xác như vậy (đến
mức chip).
Chuyển giao giữa các phương thức
Chuyển giao giữa các phương thức bao gồm chuyển giao giữa UTRA FDD và UTRA
TDD. Ví dụ UE hai mode FDD-TDD đang hoạt động ở FDD đo mức công suất từ các tế
bào TDD trong vùng. Việc này được thực hiện thông qua các cụm TDD CCPCH, được
gửi đi 2 lần trong khung TDD 10 ms. Bởi vì các tế bào TDD trong cùng vùng phủ sóng
được đồng bộ, tìm 1 khe với phần giữa chuẩn kéo theo là các tế bào TDD khác mang
cùng định thời cụm với công suất chuẩn.
Chuyển giao giữa các hệ thống
Bao gồm chuyển giao giữa các công nghệ tế bào khác nhau (ví dụ GSM, cdma2000).
Loại chuyển giao này yêu cầu là UE thu thông tin từ hệ thống mục tiêu trong các khung
nén để cho phép các phép đo từ các tần số khác. Chú ý rằng chuyển giao trong trường
hợp như vậy luôn luôn là chuyển giao cứng.
8.13.12 Tịnh tiến thời gian
Tịnh tiến thời gian là một đặc điểm của UTRA TDD. Tịnh tiến thời gian có thể dùng để
tối thiểu hóa nhiễu giữa các khe thời gian lân cận trong các tế bào lớn. Ví dụ, trong
UTRA TDD-3.84 khoảng bảo vệ là 25 micro giây (96 chip), ứng với tế bào có bán kính
3.75 km. Nếu yêu cầu tế bào lớn hơn, thì có thể thực hiện sơ đồ tịnh tiến thời gian để
đồng chỉnh các thời điểm phát riêng biệt trong máy thu trạm gốc. Khi đó một số dài 6 bít
với độ chính xác 4 chip (1.042 micro giây) được sử dụng. Tịnh tiến thời gian yêu cầu
được ước lượng bởi trạm gốc, và UE theo lệnh từ các lớp cao hơn điều chỉnh phát của
mình 1 cách tương ứng. Áp dụng sơ đồ tịnh tiến thời gian có thể mở rộng bán kính tế bào
đến 9.2 km.
8.13.13 Phân phối kênh động
DCA là một đặc điểm của UTRA TDD. Như đã nói, các đơn vị tài nguyên trong UTRA
TDD bao gồm tần số kênh, khe thời gian và mã. Phân phối tài nguyên trong UTRA TDD
có thể thực hiện trên cơ sở động với sự hỗ trợ của UE và trạm gốc thông qua giám sát và
báo cáo định kì tín hiệu. Hai loại DCA được hỗ trợ: DCA chậm và DCA nhanh.
DCA chậm
Việc phân phối các tài nguyên cho tế bào được định nghĩa là DCA chậm. DCA chậm có
thể kết thúc tại thực thể mạng bất kì cao hơn trạm gốc tạo thành vùng phủ sóng liên tục
(có cùng sự phân chia đường lên/đường xuống). Điều này có nghĩa là DCA chậm kết thúc
tại RNC. Sau đó phân phối tài nguyên được tiến hành nhờ thương lượng giữa các tế bào
lân cận, nhằm tăng tốc quá trình chuyển giao và giảm thiểu nhiễu. Thuật toán DCA chậm
phân phối các đơn vị tài nguyên trong danh sách ưu tiên có liên quan đến tế bào. Danh
sách này sau đó được dùng bởi thuật toán DCA nhanh. Danh sách được cập nhật theo
từng khung.
DCA nhanh
Việc phân phối tài nguyên cho các dịch vụ mang (bearer) được định nghĩa như DCA
nhanh. DCA nhanh luôn luôn kết thúc tại trạm gốc. DCA sử dụng các tài nguyên yêu cầu
có sẵn trong danh sách ưu tiên liên quan đến tế bào. Các dịch vụ đa tốc độ được hỗ trợ
bằng cách lấy trung bình các mã (đa mã) hoặc các khe thời gian (đa khe) hoặc các mã và

52
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

các khe thời gian. Phân phối tài nguyên có thể thay đổi tùy thuộc vào các chiến lược khác
nhau. Có thể phân phối tài nguyên dựa trên điều kiện nhiễu ít nhất; hoặc lấy trung bình
vài khe thời gian cho mục đích phân tập; hoặc thay đổi khe thời gian, mã và tần số theo
sơ đồ xác định trước cũng nhằm mục đích phân tập. Số mã phân phối thay đổi phù hợp
với tính chất kênh, môi trường và thực hiện hệ thống. Chiến lược phân phối cũng phụ
thuộc vào các dịch vụ. Với các dịch vụ thời gian thực, các tài nguyên phải được phân
phối trong thời gian cuộc gọi, nhưng các tài nguyên có thể thay đổi cho phù hợp với tiêu
chuẩn phân phối. Với các dịch vụ không cần thời gian thực, các tài nguyên được phân
phối trong thời gian truyền dữ liệu và chiến lược nỗ lực tối đa được sử dụng.
8.14 Các vấn đề nhiễu
Nếu UTRA TDD và UTRA FDD sử dụng các băng tần riêng biệt thì hai công nghệ này
có thể cùng tồn tại với toàn bộ các lợi ích. Tuy nhiên sự cùng tồn tại của cả hai công nghệ
phải được qui hoạch cẩn thận để tránh nhiễu lẫn nhau. Nhiễu thực sự là một vấn đề trong
trường hợp các phân phối phổ của hai công nghệ này là liền nhau. Trong trường hợp này,
các trạm gốc UTRA TDD và UTRA FDD đặt tại cùng vị trí sẽ không hợp lí về kĩ thuật
bởi vì sẽ cần băng bảo vệ để giảm thiểu nhiễu lẫn nhau. Nhiễu giữa các máy di động của
một công nghệ đến các trạm gốc của công nghệ khác và giữa các máy di động của các
công nghệ khác nhau cũng có thể xảy ra. Điều này có thể được giảm thiểu bằng chuyển
giao giữa các hệ thống và giữa các tần số.
Nhiễu trong UTRA FDD cơ bản tuân theo cùng nguyên tắc như trong các hệ thống
CDMA khác. Trong hệ thống UTRA TDD, việc chia sẻ cùng tần số bởi cả đường lên và
đường xuống làm cho vấn đề nhiễu trở nên phức tạp hơn. Vì thế các hệ thống TDD phải
làm việc đồng bộ. Các trạm gốc lân cận của các nhà khai thác khác nhau có thể nhiễu lẫn
nhau nếu sự đồng bộ giữa các hệ thống không được đảm bảo. Hơn nữa do bản chất không
đối xứng của đường lên và đường xuống, mức độ mất đối xứng khác nhau giữa đường lên
và đường xuống trong các tế bào lân cận ngay cả khi các trạm gốc tương ứng là đồng bộ,
cũng sẽ gây nên nhiễu. Việc sử dụng DCA giúp giảm nhiễu trong trường hợp này. Tóm
lại, sự đồng bộ ở mức khung giữa các trạm gốc trong cùng hệ thống là cần thiết. Sự đồng
bộ ở mức khung giữa các trạm gốc của các hệ thống khác nhau trong vùng lân cận là nên
có. DCA thực sự là cần thiết trong TDD hơn là đặc điểm tùy chọn.
8.15 Kết luận
Các đặc tả giao diện vô tuyến đối với cả hai công nghệ UTRA FDD và UTRA TDD đã
được phát triển với mục tiêu chính là hài hòa hai thành phần này để đạt được sự phổ biến
cực đại. Các tham số vật lí quan trọng và các giao thức lớp cao là chung cho cả hai công
nghệ. Mặt khác, do những đặc điểm của từng công nghệ, với các lớp vật lí có các tham số
khác nhau để điều khiển nên trong thực hiện thực tế các thuật toán đối với máy thu và
quản lí tài nguyên vô tuyến là khác nhau giữa 2 công nghệ này. Trong trạm gốc UTRA
TDD, các máy thu tân tiến là cần thiết, còn trong máy di động giải pháp đối với máy thu
phụ thuộc vào các chi tiết của yêu cầu về năng suất.
Các đặc tả CN được dựa trên cấu trúc GSM-MAP cải tiến và các khả năng được đưa vào
để sự hoạt động với CN dựa trên ANSI-41 là có thể. Các giao diện vô tuyến được xác
định để thích ứng với dải rộng các dịch vụ bao gồm tiếng nói, dữ liệu, và đa phương tiện.
Các dịch vụ này có thể sử dụng đồng thời bởi thuê bao và được ghép trên một sóng mang.
Cả UTRA FDD và UTRA TDD đều có thể cung cấp các dịch vụ tốc độ dữ liệu với QoS
như nhau. Mặt khác các tế bào UTRA TDD có thể nhỏ hơn các tế bào UTRA FDD đối

53
Thông tin di động Đỗ Quốc Trinh

với cùng dịch vụ tốc độ dữ liệu vì chu trình làm việc TDMA của UTRA TDD. Tuy nhiên
điều này có thể khắc phục nếu thực hiện đặc điểm tịnh tiến thời gian.

54