Está en la página 1de 10

Các đặc điểm của SDH, so sánh giữa mạng SDH với mạng PDH

Trên đường thông tin số (digital) tần số và pha của xung tín hiệu phải được đồng
bộ một cách chính xác để thực hiện việc ghép kênh. Từ các kênh tín hiệu sơ cấp
64kbit/s (=8kbit/s x 8) ta thực hiện ghép kênh cấp cao. Có 2 phương pháp ghép
kênh cấp cao: ghép kênh cận đồng bộ và với ghép kênh đồng bộ.

VIỄN THÔNG

Hỏi: Đề nghị cho biết các đặc điểm của SDH, so sánh giữa mạng SDH với mạng PDH

Đáp: Trên đường thông tin số (digital) tần số và pha của xung tín hiệu phải được đồng bộ
một cách chính xác để thực hiện việc ghép kênh. Từ các kênh tín hiệu sơ cấp 64kbit/s
(=8kbit/s x 8) ta thực hiện ghép kênh cấp cao. Có 2 phương pháp ghép kênh cấp cao:
ghép kênh cận đồng bộ và với ghép kênh đồng bộ.

Trong ghép kênh cận đồng bộ (Plesiochronous Digital Hierachy), người ta căn chỉnh pha
bằng việc chèn xung. Trong việc đồng bộ hoá bằng chèn xung, thì tốc độ của xung định
thời (timing) hơi nhanh hơn tốc độ của xung tín hiệu vào. Khi xung định thời khác nhau
1byte thì xung chèn được chèn vào vị trí thời gian thích hợp. Với nguyên tắc chèn bit để
ghép các kênh 64kbit/s, hiện nay có hai hệ thống: một theo tiêu chuẩn Bắc Mỹ và một
theo tiêu chuẩn châu Âu. Hệ Bắc Mỹ có các cấp sau:

DS0 tốc độ 64kbit/s,

DS1 tốc độ 1,544Mbit/s = 64kbit/s x 24 + 8 kbit/s

DS2 tốc độ 6,312Mbit/s = 1,544Mbit/s x 4 x 49/48 x 288/(288-0,33)

DS3 tốc độ 47,736Mbit/s

DS4 tốc độ 274,176Mbit/s

Hệ châu Âu cũng có cấp hệ tương ứng là:

CEPT0 tốc độ 64kbit/s

CEPT1 tốc độ 2,048Mbit/s

CEPT2 tốc độ 8,448Mbit/s

CEPT3 tốc độ 32,368Mbit/s

CEPT4 tốc độ 139,264Mbit/s


Trong phương trình của tín hiệu DS2, tín hiệu DS2 có được bằng cách ghép 4 tín hiệu
DS1. Tỷ số 49/48 có nghĩa là với từng 48bit lại chèn thêm 1 bit đồng bộ khung và với
từng 288bit lại có bit chèn.

Với sự ghép kênh PDH đã nêu trên, nếu ta muốn tách được một kênh riêng lẻ từ luồng tín
hiệu bậc cao không thể không qua các thiết bị tách kênh theo trình tự từ cao xuống thấp.
Theo góc độ kinh tế thì vốn đầu tư vào các thiết bị phân kênh này khá tốn kém. Đây là
nhược điểm của hệ thống PDH.

Trong những năm 1980 do hệ thống chuyển mạch số tăng ngày càng nhiều, thiết bị
truyền dẫn số được dùng nhiều và nhu cầu thiết lập ISDN càng ngày càng lớn, việc đồng
bộ hoá mạng lưới đã trở nên quan trọng. Mặt khác, nhờ vào tiến bộ công nghệ tin học
trong các thiết bị truyền dẫn, các bộ nối chéo thực hiện hoàn toàn bằng điện tử. Tại đây
dữ liệu tốc độ thấp có thể nối lẫn với tín hiệu tốc độ cao. Tương ứng, công nghệ truyền
dần theo phân cấp đồng bộ SDH (Synchronous Digital Hierachy) ra đời và đưa tới một
tiêu chuẩn quốc tế chung.

Hình 1

Trong mạng PDH, giao diện nút mạng NNI được dùng như các giao diện nối chéo (cross
connect), nhưng mạng SDH cũng dùng NNI như các giao diện cho hệ thống truyền. Với
SDH, tốc độ bit tại các giao diện NNI cũng thống nhất với tốc độ bit chuyển tải của hệ
thống tuyến. Tốc độ bit là 155,529Mbit/s; 622,080Mbit/s và 2,488320Gbit/s. Còn trong
cấp hệ PDH, giao diện của tuyến không được tiêu chuẩn hoá. Hơn nữa tiêu chuẩn SDH
cho phép triển khai các thiết bị tương thích với sự vận hành giám sát và bảo dưỡng của
mạng truyền dẫn quang.

Phương pháp ghép kênh

Quá trình ghép kênh trong mạng SDH phân biệt rõ ra 2 quá trình hoạt động độc lập nhau.
Đó là sự hình thành modun chuyển tải đồng bộ STM-1 và STM-N. Sự hình thành modun
STM-N bậc cao bằng cách xen tín hiệu STM-1. Nguyên tắc này cũng được sử dụng để
ghép các tín hiệu PSH nhánh đến (tín hiệu TR) sao cho các tín hiệu từ cấp hệ khác nhau
có thể chiếm cùng một kênh chuyển tải SDH. Hình 1 là sơ đồ biểu diễn quá trình ghép
kênh SDH. Các tín hiệu PDH như DS1, DS2... và CEPT1, CEPT2, CEPT3... và các tín
hiệu băng rộng khác là các tín hiệu nhánh đến của STM-1. Đây là modun truyền dẫn nhỏ
nhất của hệ thống SDH. STM-1 cũng là một format cơ bản của tín hiệu đồng bộ.

Các tín hiệu trên được bố trí vào khung STM-1, sau khi qua các phần tử như contenơ C,
contenơ ảo VC, đơn nguyên nhánh ghép TU và đơn nguyên quản lý AU.

Trong số các phần tử trên, C và VC được dùng để truyền dẫn tín hiệu nhánh ghép trên
mạng đồng bộ; kênh ảo VC được hình thành từ một phần của khung STM-1 để chuyển tải
tín hiệu hoặc kênh dịch vụ. Lối đi từ điểm hình thành côngtenơ ảo VC đến điểm côngtenơ
bị huỷ, được biểu thị bằng tín hiệu mào đầu POH của khung. Đơn nguyên AU có một
“con trỏ” để chỉ thị điểm xuất phát của khung VC chiếm phần tải trọng (payload) của
STM-1. Đơn nguyên TU có một con trỏ để biểu thị điểm xuất phát của VCn-1 (ở mức
thấp) chiếm tải trọng nằm trong VC. Sự sắp xếp VCn, VCn-1 yêu cầu linh hoạt. Sau khi
qua các phần tử trên, các tín hiệu nhánh ghép đã được chuyển vào STM-1.

Tiếp tục, muốn ghép N mođun STM-1 thành STM-N có thể dùng phương pháp xen byte
đơn giản như hình 2.

Hình 2

Cấu trúc khung của SDH

Cấu trúc khung của SDH được thiết kế sao cho các kênh dịch vụ hoặc kênh báo hiệu đưa
vào hoặc lấy ra một cách dễ dàng. Hơn nữa trong tương lai tín hiệu SDH cơ sở sẽ được
dùng như tín hiệu cơ sở của mạng truyền dẫn, đặc biệt mạng ISDN băng rộng. Hình 3 là
cấu trúc khung của STM-1 có chu kỳ lặp lại là 125s, thông tin được sắp xếp với đơn vị
byte theo 270 và 9 dòng. Các chức năng xử lý tín hiệu chứa ở phần thông tin mào đầu.
Mức cơ bản của tín hiệu SDH là 155,520Mbit/s. Tốc độ cấp hệ bậc cao hơn là bội số của
tốc độ cấp hệ cơ bản. Những tín hiệu DS1... DS3 của Mỹ Nhật có thể chiếm một số hàng
cột như sau:

Tín hiệu DS1 (1,544Mbit/s) chiếm 9 hàng x 3 cột

Tín hiệu DS2 chiếm 9 hàng x 12 cột

Tín hiệu DS3 chiếm 9 hàng x 85 cột


Tương tự, tín hiệu CEPT1... CEPT3 của châu Âu chiếm:

Tín hiệu CEPT1 (2,048Mbit/s) chiếm 9 hàng x 4 cột

Tín hiệu CEPT2 chiếm 9 hàng x 16 cột

Tín hiệu CEPT3 chiếm 9 hàng x 65 cột

Tín hiệu CEPT4 chiếm 9 hàng x 261 cột

Đối với những tín hiệu trên, tín hiệu mào đầu được bổ sung thêm vào tốc độ cơ bản. Tín
hiệu mào đầu này được xếp trong đơn nguyên gồm 9 cột (xem hình 1). Như vậy, đơn
nguyên này chứa hàm số xác nhận trên mỗi hàng. Như vậy các chức năng xác nhận, tách
ra và xen vào có thể thực hiện một cách dễ dàng hơn.

Hình 3

Để thích ứng với dịch vụ băng rộng ISDN, ta có thể thiết lập tốc độ dịch vụ sao cho cấu
trúc 9 x N byte (N là số nguyên) vẫn được đảm bảo.

Đơn nguyên mào đầu gồm SOH (section overhead) và POH (path overhead). Phần SOH
do các phần tử khác nhau trong các thiết bị ghép kênh và tuyến truyền dẫn yêu cầu. Phần
POH do từng lối đi (path) của tín hiệu trong khung yêu cầu. Đặc biệt, các đặc tính cần
thiết để giám sát mạng, kiểm tra chất lượng và cấu hình từ xa đã được sắp đặt trong phần
mào đầu, phù hợp với tiêu chuẩn quản lý mạng kênh chung.
Hình 4

Ưu điểm của cấu trúc ghép kênh trong mạng SDH là đảm bảo tính linh hoạt do tác dụng
xen byte (hình 1). Ta thấy, thông tin các dịch vụ DSn (hoặc dịch vụ băng rộng Hn) chứa
vào tải trọng của khung STM-1 (hình 3).

Các côngtenơ Cn được hình thành bằng các thông tin dịch vụ. Các côngtenơ ảo VCn gồm
côngtenơ C cộng thêm mào đầu POH.

Đơn nguyên nhánh ghép TUn gồm VCn cộng thêm con trỏ TH PRT.

Công tenơ ảo bậc cao VCn+1 gồm N (số nguyên N=1, 2, 3...) đơn nguyên TUn ghép lại
và cộng thêm mào đầu POHn+1.

Đơn nguyên AUm bậc cao gồm côngtenơ ảo bậc cao cộng thêm con trỏ AUmPTR (m=3
hoặc 4).

Hình 4 là một thí dụ minh họa cấu trúc của côngtenơ ảo VC-4.

Hình 5

Các cấu hình mạng SDH

Công nghệ SDH cho phép cấu hình mạng rất linh hoạt và đa dạng như: mạng điểm nối
điểm, mạng dây xích (xen/rẽ), mạng vòng Ring.
Tại các trạm đầu cuối STM, các luồng tín hiệu 2Mbit/s, 34Mbit/s và 140Mbit/s... qua các
thiết bị ghép kênh đồng bộ thành các luồng 155Mbit/s và được truyền tới trạm tiếp theo
bằng cáp quang. Trên một dẫy liên tiếp các trạm còn có trạm ghép/rẽ SMA. Tại đây, một
số luồng được rẽ ra và một số luồng được ghép vào.

Hình 6

Mạng được dùng phổ biến là mạng vòng Ring. Trong một vòng như hình 6, các mođun
SMA nối kín với nhau. Khi một khâu của vòng có sự cố, thì cấu hình ring nhanh chóng
hồi phục đường truyền để truyền lưu lượng. Cấu hình Ring còn cho phép dễ dàng tổ chức
dự phòng 1+1. Trong dự phòng 1+1 các tuyến nối giữa SMA đều là tuyến kép. Lúc này
lối vào và lối ra của mỗi SMA đều sử dụng giao diện dự phòng. Cấu hình ring bảo vệ 1+1
có khả năng tự khôi phục, tự điều khiển cho phép dự phòng 100% khi có sự cố đường
truyền.

Đo kiểm trong mạng SONET/SDH thế hệ mới

SONET/SDH thế hệ mới là thuật ngữ mô tả tính kế thừa và phát triển dựa trên
những tiêu chuẩn hình thành từ mạng SONET/SDH sẵn có, được các nhà cung cấp
dịch vụ đường dài sử dụng đầu tiên như một cách để hỗ trợ các dịch vụ mới như
Ethernet, Fibre Channel, ESCON và DVB (Bảng 1), SONET/SDH thế hệ mới cho
phép truyền dữ liệu băng thông rộng với tốc độ cao hơn trong điều kiện tài chính
giới hạn.

Ưu điểm của SONET/SDH thế hệ mới so với Ethernet


SONET/SDH thế hệ mới là thuật ngữ mô tả tính kế thừa và phát triển dựa trên những tiêu chuẩn hình thành
từ mạng SONET/SDH sẵn có, được các nhà cung cấp dịch vụ đường dài sử dụng đầu tiên như một cách để
hỗ trợ các dịch vụ mới như Ethernet, Fibre Channel, ESCON và DVB (Bảng 1), SONET/SDH thế hệ mới
cho phép truyền dữ liệu băng thông rộng với tốc độ cao hơn trong điều kiện tài chính giới hạn.
Bảng 1

Gigabit Ethernet Fiber Channel

ứng dụng Mạng số liệu SAN, Audio/Video, số liệu Sự bùng nổ của Ethernet trong các mạng LAN do
Tốc độ truyền 1.25Gbit/s 1.06 Git/s, 2.12Gbit/s,
tính đơn giản và hiệu quả của nó. Các tốc độ truyền
10Gbit/s Ethernet chuẩn như 10/100/1000 Mbit/s và 10Gbit/s
Kích thước khung Thay đổi, 0 – Thay đổi, 1 –2 kB đã hiện diện trong mạng MAN. Do Ethernet hoạt
1.5kB động dựa trên nguyên tắc tối ưu, dễ gây ra việc
Các kết nối định Không Có truyền tải số liệu không được đảm bảo, nên đã tạo ra
hướng lo lắng rằng Ethernet không đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu về chất lượng dịch vụ, tính bảo mật, tính dư thừa và khả năng khôi phục cho cả lưu lượng thoại và số
liệu. Chuẩn Ethernet mới 10Gbit/s không chỉ nhanh gấp 10 lần so với các chuẩn trước đây mà còn được
thiết kế để thúc đẩy sự hội tụ các công nghệ mạng.

Để gửi một tín hiệu Ethernet 10Gbit/s trực tiếp tới thiết bị ghép kênh xen/rẽ ADM SONET/SDH truyền
thống, các thiết bị đầu cuối đường truyền Ethernet phải lưu trữ tạm thời tín hiệu tại bộ nhớ đệm và chuyển
đổi thành tín hiệu được mạng SONET/SDH hỗ trợ.
Mặc dù Ethernet Gigabit cung cấp một khung chuẩn chung từ người dùng tới đường trục, nhưng cũng cần
có thêm một công nghệ thực hiện chức năng như một dịch vụ truyền dẫn để lưu trữ, truyền tải dịch vụ dữ
liệu thô, âm thanh, hình ảnh độc lập về giao thức. Fiber Channel được thiết kế để loại bỏ nhiều trở ngại về
hoạt động trước đây đã tồn tại trong các mạng LAN truyền thống. Các kênh đang cung cấp phù hợp với
công nghệ Gigabit cho điều khiển, tự quản lý và tin cậy tại khoảng cách lên tới 10km.

Tuy nhiên, khi Fiber channel rời bỏ mạng SAN và tương tác với SONET/SDH, việc mất gói và các lỗi sẽ
xảy ra. Mặc dù cơ chế TCP hỗ trợ sửa các lỗi này, nhưng sự trễ và giảm băng thông lại gây ra các vấn đề về
hiệu năng.

Mạng SONET/SDH thế hệ mới nâng cao tính hữu dụng trong mạng SONET/SDH hiện có bởi việc tận
dụng cơ chế mạng lớp 1 hiện có cùng với việc bổ sung các công nghệ như: kết chuỗi ảo VC (Virtual
Concatenation), thủ tục tạo khung chung GFP (Generic Framing Procedure) và giao thức truy nhập liên kết
LCAS (Link Access Protocol).

Hình 1. Khái quát về mạng SONET/SDH


Các thành phần của mạng SONET/SDH thế hệ mới
Kết chuỗi ảo VC (Virtual Concatenation)
Phương pháp truyền thống của ghép nối theo chuẩn ITU-T G.707 là các container liền kề được kết hợp và
được truyền qua mạng SONET/SDH như một container. Hạn chế của ghép nối liền kề là nó luôn yêu cầu
tất cả các nút mạng phải có khả năng nhận ra và xử lý các container được ghép nối và việc thiếu phân đoạn
băng thông, nguyên nhân thường gây ra sự truyền dẫn tín hiệu số liệu không hiệu quả.

Vì các nút mạng trung gian coi các container trong liên kết là container được ghép nối thông thường, nên
chỉ có các thiết bị tuyến gốc (path originating) và đầu cuối tuyến (path terminating) cần nhận và xử lý cấu
trúc tín hiệu ghép nối ảo. Điều này có nghĩa là từng liên kết có thể tách thành tuyến riêng khi qua mạng,
dẫn tới sự khác biệt về pha giữa các container tới thiết bị đầu cuối tuyến, do vậy yêu cầu các thiết bị phải có
khả năng lưu trữ và bù các trễ trên.
Việc phân đoạn băng thông truyền dẫn ngày nay được định nghĩa trong các chuẩn đường truyền tốc độ
STM-0/1/4/16 và STM-64 (OC-1/3/12/48 và OC-192).
Bảng 2. So sánh hiệu quả dung lượng truyền dẫn
Dịch vụ Hiệu quả dung lượng Hiệu quả dung lượng Thông tin được yêu cầu cho ghép nối ảo được
truyền dẫn không có truyền dẫn có VC truyền qua phần mào đầu tuyến của mỗi
VC
container.
Ethernet (10Mbps) VC-3 20% VC-12-5v 92%
Bảng 4.
Fast Ethernet VC-4  67% VC-12-47v  100%
(100Mbps) SDH SONET

ESCON (200Myte) VC-4-4c  33% TuyếnVC-3-4v


cấp cao 
(High Oder Path)
100% H4 H4

Fiber Channel (1 Gbit) VC-4-16c  33% VC-4-6v  89%

Gigabit Ethernet (1000 VC-4-16c  42% VC-4-7v 85%


Mbit)
Tuyến cấp thấp (Low Oder Path) K4 Z7

Các tham số yêu cầu trong kết nối ảo gồm: đếm Chế độ Mô tả ứng dụng
khung (Frame Counter-MFI) và số thứ tự GFP-F Dịch vụ được ánh xạ từng khung Fast Ethernet, Giga
(Sequence Number - SQ). vào vào khung GFP Ethernet, IP, etc.
Tối thiểu hoá mào đầu
Chiều dài khung GFP có thể thay
Vì các thành phần của nhóm VCG có thể truyền đổi
trên mạng qua nhiều đường khác nhau nên chúng GFP-T Các dịch vụ được ánh xạ từng byte Fiber channel, FICON,
đến đích không cùng thời điểm. Để loại trừ trễ vi vào khung GFP ESCON, Ethernet, DVB,
phân và đảm bảo sự tái hợp của tất cả các thành Trễ truyền dẫn được tối ưu hóa etc.

phần trong nhóm, phương thức đánh số (SQ) được Chiều dài khung GFP cố định
đưa ra để chỉ thị cho từng thành phần.
MFI có thể xác định được các trễ vi phân giữa các thành phần trong VCG và bù cho việc trễ đó lên tới
512ms.
Bảng 3.

Thủ tục tạo khung chung (Generic Framing Proceduce)


Kĩ thuật đóng gói như thủ tục tạo khung chung, cần được ứng dụng để khắc phục sự không đồng bộ, thay
đổi đột ngột về thông lượng hay các thay đổi kích thước khung trước khi truyền số liệu IP/PPP, Ethernet
MAC, Fiber channel, ESCON, và FICON qua mạng SONET/SDH.
GFP ghép một chuỗi số liệu khung cơ bản với chuỗi byte bằng cách ánh xạ các dịch vụ khác nhau vào cùng
một khung chung, sau đó được ánh xạ vào các khung SONET/SDH. Cấu trúc đóng khung này tốt hơn cho
việc dò tìm, sửa lỗi và mang lại hiệu quả băng thông cao hơn so với các phương thức đóng gói truyền
thống.

Khung GFP gồm 4 phần: mào đầu chính, mào đầu tải tin, tải thực tế và trường tuỳ chọn xác định lỗi.
- Mào đầu chính (Core header) định nghĩa chiều dài khung GFP và sửa lỗi CRC
- Mào đầu tải tin (Payload header) xác định loại thông tin được truyền tải, gồm việc quản lý các khung
hay các khung thành phần và nội dung tải
- Thông tin tải xác định tải truyền tải thực tế
- Tuỳ chọn xác định lỗi FCS
- Hiện tại có 2 chế độ cho việc ghép tín hiệu thành phần được định nghĩa cho GFP là GFP khung
(GFP-F), nơi một khung số liệu được ánh xạ từng thành phần của nó vào một khung GFP
- GFP transparent (GFP-T): nơi các mã khối tín hiệu số được ánh xạ vào các khung GFP định trước
(Bảng 3).

Hình 2. Khung GFP

Chế độ dùng phụ thuộc vào dịch vụ sẽ được truyền, tuy nhiên, cho đến nay, số liệu trên Ethernet được định
nghĩa cho GFP-F, và trong thời gian ngắn tới, Fiber channel cũng sẽ dùng cho GFP-F. GFP-T có thể bao
gồm Ethernet, Fiber channel và ESCON. Các dịch vụ được ánh xạ qua GFP-F dùng tối thiểu lượng mào
đầu để đảm bảo hiệu quả băng thông lớn nhất, trong khi đó GFP-T lại ưu tiên các dịch vụ được ánh xạ đem
đến khả năng truyền tải dữ liệu nhanh, hiệu quả.

Ngoài cơ chế thích nghi của GFP, còn có các phương thức đóng khung khác được dùng phổ biến như
LAPS (link access protocol) và HDLC (high-level data link control). Tuy nhiên, GFP hỗ trợ đa dịch vụ và
có độ linh hoạt cao hơn (có thể được sử dụng cùng với mạng OTN), và độ ổn định cao hơn của nó dẫn tới
khả năng phát triển các cấu trúc ghép kênh GFP.
LCAS
Một chuẩn mới được phát triển gần đây là giao thức LCAS. LCAS hoạt động giữa 2 NE và được kết nối tại
giao diện khách hàng tới mạng SONET/SDH truyền thống. Mỗi byte H4/K4 (Bảng 4) truyền tải một gói
điều khiển, gói này chứa các thông tin liên quan tới kết nối ảo và các thông số của giao thức LCAS.

Bằng việc xác định thành phần nào trong VCG được kích hoạt và được sử dụng như thế nào, LCAS cho
phép thiết bị linh hoạt thay đổi số lượng các container trong một nhóm kết nối để đáp ứng theo sự thay đổi
thực tế trong yêu cầu băng thông. Việc tăng hay giảm băng thông truyền tải có thể được thực hiện mà
không có bất kỳ ảnh hưởng nào tới dịch vụ. Ví dụ, một công ty được hỗ trợ một liên kết 500Mbit/s giữa các
chi nhánh trong giờ làm việc cần một băng thông cao hơn để thực hiện cập nhật trong giờ nghỉ. Với LCAS,
1Gbit/s của băng thông bổ sung được cung cấp tự động mà không có bất kỳ ảnh hưởng nào tới dịch vụ.

Các thông số trong gói điều khiển thích hợp với giao thức LCAS:
- Các lệnh điều khiển (CTRL – Control Commands) đồng bộ bộ nguồn, bộ nhận và truyền tải thông tin
liên quan tới trạng thái của từng thành phần trong VCG
- Xác định nguồn (GID – Source Identifier) thông báo tới bộ thu thành phần nào thuộc VCG
- Resequence Acknowledgement (RS-Ack) thông báo cho nguồn rằng phía thu đã nhận được các thay đổi
ban đầu
- Trạng thái thành phần (MST – Member Status) truyền trạng thái của liên kết từ thiết bị nhận (sink) tới
thiết bị nguồn (source) cho từng thành phần riêng biệt trong VCG (OK=0, FAIL=1)
- Kiểm tra lỗi (CRC – Error protection) xác định lỗi và loại bỏ các gói điều khiển bị lỗi trong từng thành
phần cụ thể của VCG
Kiểm tra sự ảnh hưởng – yêu cầu chính trong việc đảm bảo dịch vụ
Việc kiểm tra đóng vai trò quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro khi phân phối dịch vụ không đồng bộ qua các
mạng đồng bộ SONET/SDH. Đó là một quá trình liên tục để đảm bảo rằng tất cả các lớp, từ lớp dịch vụ tới
lớp GFP cũng như VC tới LCAS hoạt động thích hợp.

Các khu vực đo kiểm


Tính thông suốt của dịch vụ
Việc đo kiểm các dịch vụ gói như Ethernet phải được thực hiện trong tất cả các NE, bao gồm các giao diện
SONET/SDH và PDH giữa các khách hàng, các mạng MAN, với mạng lõi. Thêm vào đó, cần:
- Phân tích cảnh báo và lỗi từng khung Ethernet nhận được
- Mô tả lưu lượng của mạng để nhận biết người sử dụng hoạt động thế nào và xác định nếu lưu lượng
có thay đổi.
- Phân tích tình huống xấu được thực hiện thông qua việc ánh xạ và giải ánh xạ một số lượng lớn các
khung Ethernet ngắn hay các điều kiện bất thường khác như khung vượt quá kích thước.

Việc thích nghi băng thông


Để đáp ứng yêu cầu tăng băng thông của khách hàng sử dụng Ethernet, từ 10 Mbit/s tới 30Mbit/s, GFP,
với vai trò như một lớp thích nghi, sẽ làm đầy trữ lượng băng thông hiện tại của mạng truyền dẫn. Khi yêu
cầu băng thông lớn hơn, các container ảo sẽ được thêm vào VCG, được GFP tự động nhận ra, và thực hiện
việc thay đổi trạng thái để giải phóng phần băng thông thêm vào.

Việc kiểm tra các NE giúp nhận biết được khả năng thêm hay bớt các container ảo và xác thực xem liệu
GFP có thể đáp ứng thích hợp với bất kỳ sự thay đổi nào hay không.

Cơ chế bù trễ vi phân


Khi mạng hỗ trợ kết nối ảo, thành phần tải được chia ra và truyền qua nhiều tuyến đường khác nhau. Trong
mạng quy mô lớn, những đường truyền sẽ không cùng độ dài và số NE, nên các thành phần của VCG sẽ
không đến cùng thời điểm. Trước khi tái ghép các thành phần tải, thiết bị đầu cuối phải bù lại phần trễ vi
phân. Tuy nhiên, quá trình xử lý này chủ yếu dựa trên khả năng tính toán và không gian bộ nhớ, nên phải
được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo có thể thực hiện hiệu quả.

Để ngăn chặn các thông lượng xấu, mất tải, hay kết nối bị lỗi hoàn toàn, cần phải kiểm tra những điều sau:
- Khả năng của NE lưu trữ các thành phần của một nhóm để bù lại trễ vi phân.
- Việc tái ghép các thành phần của nhóm để hoàn thành VCG.

Thích nghi băng thông động


Nếu LCAS được sử dụng, việc giả lập tăng hay giảm sử dụng băng thông dựa trên các trạng thái LCAS có
thể được kiểm tra khi các giao thức được bổ sung phù hợp. Vì LCAS không đối xứng nên các hướng kết
nối đi và về đều cần được kiểm tra đồng thời thông qua các lệnh trong gói điều khiển và giám sát sự phản
hồi của NE. Việc kiểm tra các NE phản hồi thế nào nếu các lệnh chuẩn hoá không được dùng cũng là điều
cần thiết. Đó là điều quan trọng khi thực hiện các bài đo với thiết bị có khả năng bắt tay và chấp nhận việc
thích nghi băng thông mà không làm gián đoạn dịch vụ.

Tính toàn vẹn của các giao diện NE


Sau khi các NE của mạng thế hệ mới được tích hợp vào mạng SONET/SDH truyền thống, các NE phải
được kiểm tra khả năng đáp ứng theo tiêu chuẩn của ITU-T/ANSI/Telcore.

Đặc biệt, các bài kiểm tra được thiết kế để phát hiện và sửa phản ứng lỗi, cảnh báo, dò tuyến, và nội dung
các mào đầu tuyến. Để kiểm tra theo các khuyến nghị của ITU-T, tất cả các bài đo phải được thực hiện trên
từng container nhỏ. Không chỉ các giao diện SONET/SDH mà tất cả các giao diện khách hàng cũng phải
được đo kiểm.

Kết luận
Điểm ưu việt lớn nhất trong mạng thế hệ mới SONET/SDH là cho phép các nhà khai thác mạng đưa công
nghệ mới vào mạng của SONET/SDH truyền thống chỉ đơn giản bằng việc thay thế các thành phần biên
NE. Với khả năng này, cả TDM và các dịch vụ gói đều được điều khiển hiệu quả trên cùng bước sóng.
Ngoài ra, việc đưa SONET/SDH vào quản lý băng thông gói và phân đoạn lớn hơn trong quá trình bảo trì
các chức năng then chốt của mạng TDM truyền thống cũng là những bước cải tiến quan trọng.

Sự linh hoạt của mạng SONET/SDH thế hệ mới cho phép các nhà cung cấp mạng lựa chọn hoặc hình thành
công nghệ lai TDM/gói cung cấp đa dịch vụ trên cùng một nền tảng hoặc chỉ để cung cấp khả năng đóng
khung chuỗi bit.

Với sự phát triển liên tục của ngành công nghệ viễn thông, điều luôn được các nhà cung cấp mạng quan
tâm là làm thế nào để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng nhưng vẫn không vượt giới hạn tài chính.
SONET/SDH thế hệ mới không chỉ hiệu quả về mặt kinh tế mà còn làm tăng khả năng và dung lượng của
các mạng truyền thống lên các cấp độ cao hơn hẳn các công nghệ khác. Việc tích hợp công nghệ
SONET/SDH thế hệ mới vào mạng SONET/SDH truyền thống có ý nghĩa lớn trong việc gia tăng thông
lượng, chất lượng, và khả năng dịch vụ có thể đạt được miễn là việc kiểm tra, giám sát luôn được thực hiện
để bảo đảm công nghệ mới và công nghệ sẵn có kết hợp hoàn hảo khi đáp ứng nhu cầu về băng thông rộng
ngày càng tăng.