Está en la página 1de 40

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

---------------------------------------

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN


Nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong mạng
MPLS/VPN cho mạng truyền số liệu chuyên dùng
của các cơ quan Đảng và Nhà nước
Chuyên ngành: TRUYỀN DỮ LIỆU VÀ MẠNG MÁY TÍNH
Mã số: 60.48.15

Người hướngdẫn KH: TS Nguyễn Thành Phúc

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – NĂM 2011


MỞ ĐẦU

Chất lượng dịch vụ mạng luôn là vấn đề quan tâm của cả người sử dụng và nhà cung
cấp dịch vụ. Đảm bảo chất lượng dịch vụ và cung cấp các dịch vụ chất lượng cao luôn là
tiêu chí hàng đầu của ngành viễn thông. Theo dõi sự phát triển của ngành công nghệ viễn
thông trong các năm trở lại đây, chúng ta có thể chứng kiến nhiều bước tiến lớn trong
lĩnh vực này. Với mục đích cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ có chất lượng cao,
quá trình phát triển đã bắt đầu từ công nghệ X25 vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80.
Tiếp theo đó là công nghệ ATM trong thập kỷ 90, hướng tới mạng số băng rộng B-ISDN.
Theo thời gian, các công nghệ trên cũng không đáp ứng được hết các yêu cầu về
chất lượng dịch vụ. Công nghệ chuyển mạch gói IP ra đời, đây cũng là phương thức duy
nhất áp dụng cho mạng Internet hiện nay. Nhưng công nghệ IP không đảm bảo được chất
lượng dịch vụ, tốc độ truyền tin theo yêu cầu. Do đó, công nghệ chuyển mạch nhãn đa
giao thức MPLS đã ra đời, đáp ứng được các yêu cầu đó và nó đã thực sự chiếm lĩnh
được thị trường viễn thông khó tính. Sự ra đời của công nghệ MPLS được dự báo là xu
hướng tất yếu khi nhu cầu và tốc độ phát triển rất nhanh của mạng Internet đòi hỏi phải
có một giao thức mới đáp ứng được tất cả các loại dịch vụ và đảm bảo chất lượng dịch vụ
theo yêu cầu.
Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức và
các yêu cầu về chất lượng dịch vụ, bản luận văn “Nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong
mạng MPLS/VPN” đã giới thiệu tổng quan về công nghệ MPLS, VPN, các tham số và
các yêu cầu về chất lượng đối với từng kiểu dịch vụ khác nhau. Bên cạnh đó, bản luận
văn còn đi sâu vào thiết kế chất lượng dịch vụ cho từng loại dịch vụ trong mạng
MPLS/VPN, các thiết lập QoS trong mô hình thực tế mạng truyền số liệu chuyên dùng
của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Bố cục của luận văn gồm 4 chương:
 Chương 1 : Giới thiệu chung về MPLS /VPN
 Chương 2 : QoS cho mạng MPLS/VPN
 Chương 3 : Giải pháp QoS cho mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan
Đảng, Nhà nước
Đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ trong viễn thông, đáp ứng được các yêu
cầu của khách hàng vẫn đang là những vấn đề khó khăn đối với các nhà cung cấp dịch vụ
viễn thông. Do đó bản luận văn không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thành Phúc người đã tận tình
hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành bản luận văn này.
CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MPLS /VPN

1.1. Các khái niệm và giao thức cơ bản của mạng MPLS
1.1.1. Các khái niệm
 Nhãn (Label):
Nhãn là một thực thể có độ dài ngắn và cố định được gắn vào một gói tin cụ thể sẽ
đại diện cho một FEC (Forwarding Equivalence Classes: Nhóm chuyển tiếp tương
đương) mà gói tin được ấn định. Tuy nhiên nhãn không phải là mã hoá của địa chỉ đó.
Nhãn xác định đường đi mà gói tin có thể truyền qua. Nhãn được đóng gói trong
tiêu đề lớp 2 cùng với gói tin. Bộ định tuyến kiểm tra các gói tin qua nội dung nhãn để
xác định các bước chuyển kế tiếp. Dạng của nhãn phụ thuộc vào phương thức truyền tin
mà gói tin được đóng gói.
 Ngăn xếp nhãn (Lable stack):
Là một tập hợp thứ tự các nhãn gán theo gói để chuyển tải thông tin về nhiều FEC
và về các LSP tương ứng mà gói đi qua.
 Bảng chuyển tiếp chuyển mạch nhãn:
Chứa thông tin về nhãn vào, nhãn ra, giao diện vào, giao diện ra.
 Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn ( LSR-Lable Switching Router ):
Là thiết bị chuyển mạch hay thiết bị định tuyến sử dụng trong mạng MPLS để
chuyển các gói tin bằng thủ tục phân phối nhãn.
 Lớp chuyển tiếp tương đương ( FEC-Forward Equivalence Class ):
FEC là một nhóm các gói chia sẻ cùng yêu cầu trong sự chuyển tiếp chúng qua
mạng. Tất cả các gói trong một nhóm như vậy được cung cấp cùng cách chọn đường tới
đích. Khác với chuyển tiếp IP truyền thống, trong MPLS việc gán một gói cụ thể vào một
FEC cụ thể chỉ được thực hiện một lần khi các gói vào trong mạng.
 Cơ sở thông tin nhãn ( LIB-Label Information Base ):
Là bảng kết nối trong LSR có chứa giá trị nhãn/ FEC được gán vào cổng ra cũng
như thông tin về đóng gói dữ liệu truyền tin để xác định phương thức một gói tin được
chuyển tiếp.
 Tuyến chuyển mạch nhãn ( LSP-Label Switching Path ):
Là tuyến tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS dùng để chuyển tiếp gói của
một FEC nào đó sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn. Các tuyến chuyển mạch nhãn chứa một
chuỗi các nhãn tại tất cả các nút dọc theo tuyến từ nguồn tới đích.Các nhãn được phân
phối bằng các giao thức như LDP, RSVP.
 Gói tin dán nhãn:
Gói tin dán nhãn là gói tin mà nhãn được mã hóa trong đó. Trong một số trường
hợp, nhãn nằm trong mào đầu của gói tin dành riêng cho mục đích dán nhãn.
 Ấn định và phân phối nhãn:
Trong mạng MPLS, các nhãn được LSR phía trước ấn định và các kết hợp nhãn
được phân phối theo hướng từ LSR phía trước tới LSR phía sau.
 Cơ cấu báo hiệu
 Yêu cầu nhãn: Một LSR yêu cầu một nhãn từ dòng xuống lân cận nên nó có thể
liên kết đến FEC xác định. Cơ cấu này có thể dùng để truyền đến các LSR tiếp
theo cho đến LER lối ra.
 Đáp ứng nhãn: Để đáp ứng một yêu cầu nhãn, LSR luồng xuống sẽ gửi một nhãn
đến các bộ khởi động luồng lên sử dụng cơ cấu ánh xạ nhãn.

Hình 1.4: Cơ cấu báo hiệu


1.1.2. Các giao thức cơ bản của MPLS.
1.1.2.1. Giao thức phân phối nhãn
Giao thức phân phối nhãn được sử dụng trong quá trình gán nhãn cho các gói tin.
Giao thức LDP là giao thức điều khiển tách biệt được các LSR sử dụng để trao đổi và
điều phối quá trình gián nhãn/ FEC. Giao thức này là một tập hợp thủ tục trao đổi các
nhãn bản tin cho phép các LSR sử dụng giá trị nhãn thuộc FEC nhất định để truyền gói
tin.
Việc trao đổi các bản tin LDP có thể được khởi phát bởi sự xuất hiện của luồng số
liệu đặc biệt, bản tin lập dự trữ RSVP hay cập nhật thông tin định tuyến. Khi một cặp
LSR đã trao đổi bản tin LDP cho một FEC nhất định thì một đường chuyển mạch LSP từ
đầu vào đến đầu ra được thiết lập sau khi mỗi LSR ghép nhãn đầu vào nới đầu ra tương
ứng trong LIB của nó.
a) Các bản tin LDP
 Tiêu đề bản tin LDP
 Phiên bản: Số phiên bản của giao thức, hiện tại là phiên bản 1.
 Độ dài PDU: Tổng độ dài của PDU tính theo octet, không tính trường phiên bản
và trường độ dài.
 Nhận dạng LDP: Nhận dạng không gian nhãn của LSR gửi bản tin này. Bốn octet
đầu tiên chứa địa chỉ IP được gán cho LSR: nhận dạng bộ định tuyến. Hai octet
cuối nhận dạng không gian nhãn bên trong LSR.Với LSR có không gian nhãn lớn,
trường này có giá trị bằng 0.
0 15 31
Phiªn b¶n §é dµi PDU
NhËn d¹ng LDP
NhËn d¹ng LDP
.

Hình 1.6: Tiêu đề bản tin LDP.


b) Khuôn dạng bản tin LDP
Tất cả các bản tin LDP có khuôn dạng sau:
U Kiểu bản tin Độ dài bản tin
ID bản tin
Thông số bắt buộc
Thông số tùy chọn
Hình 1.7: Khuôn dạng các bản tin LDP.
 Bit U: bit bản tin chưa biết. Nếu bit này bằng 1 thì nó không thể được thông dịch
bởi phía nhận, lúc đó bản tin bị bỏ qua mà không có phản hồi.
 Kiểu bản tin: Chỉ ra kiểu bản tin là gì.
 Chiều dài bản tin: Chỉ ra chiều dài của các phần nhận dạng bản tin, các thông số
bắt buộc, và các thông số tuỳ chọn.
 Nhận dạng bản tin: là một số nhận dạng duy nhất bản tin. Trường này có thể được
sử dụng để kết hợp các bản tin Thông báo với một bản tin khác.
 Thông số bắt buộc, và Thông số tuỳ chọn : tuỳ thuộc vào từng bản tin LDP.
c) Các bản tin và chức năng của bản tin trong LDP:
Bao gồm 11 bản tin LDP
 Bản tin thông báo: được sử dụng bởi một LSR để thông báo với các LSR đồng cấp
khác về trạng thái mạng là đang trong điều kiện bình thường hay bị lỗi
 Bản tin Hello: Bản tin này dùng để trao đổi giữa 2 LDP đồng cấp.
 Bản tin Initilization: Các bản tin thuộc loại này được gửi khi bắt đầu một phiên
LDP giữa 2 LSR để trao đổi các tham số, các đại lượng tuỳ chọn cho phiên. Các
tham số này bao gồm: chế độ phân phối nhãn, các giá trị định thời, phạm vi các
nhãn sử dụng trong kênh giữa 2 LSR
 Bản tin Keep Alive: Bản tin này dùng để trao đổi giữa các thực thể đồng cấp để
giám sát tính ổn định và liên tục của việc hỗ trợ của một kết nối TCP trong một
phiên LDP.
 Bản tin Address: Bản tin này được gửi đi bởi một LSR tới các LDP đồng cấp để
thông báo các địa chỉ giao diện của nó. Một LSR khác nhận bản tin mang địa chỉ
này để duy trì cơ sở dữ liệu để ánh xạ trường nhận dạng và các địa chỉ chặng tiếp
theo giữa các LDP đồng cấp.
 Bản tin Address Withdraw: Bản tin này dùng để xoá địa chỉ đã được thông báo
trước đó. Danh sách địa chỉ LTV chứa một loạt các địa chỉ đang được yêu cầu cần
xoá bỏ bởi LSR.
 Bản tin Lable Mapping: Các bản tin ánh xạ nhãn được sử dụng để quảng bá liên
kết giữa FEC ( tiền tố địa chỉ ) và nhãn giữa các thực thể đồng cấp. Bản tin này
được sử dụng khi có sự thay đổi trong bảng định tuyến (thay đổi tiền tố địa chỉ)
hay thay đổi trong cấu hình LSR tạm dừng việc chuyển nhãn các gói trong FEC
đó.
 Bản tin Lable Withdraw: Bản tin này có nhiệm vụ ngược lại so với bản tin ánh xạ
địa chỉ, được sử dụng để xoá bỏ các kiên kết giữa các FEC và các nhãn vừa thực
hiện. Bản tin này được gửi tới một thực thể đồng cấp để thông báo rằng nút không
còn tiếp tục sử dụng các liên kết nhãn-FEC mà LSR đã gửi trước đó
 Bản tin Lable Request: Bản tin yêu cầu nhãn được LSR sử dụng để yêu cầu một
LDP đồng cấp cung cấp một sự kết hợp nhãn cho một FEC.
 Bản tin giải phóng nhãn: Bản tin này được LSR sử dụng khi nhận được chuyển
đổi nhãn mà nó không cần thiết nữa, LSR sẽ phát bản tin giải phóng nhãn
 Bản tin Lable Abort Request: Bản tin này được sử dụng để lạo bỏ các bản tin yêu
cầu nhãn bất thường.
d) Các chế độ phân phối nhãn:
Chúng ta đã biết một số chế độ hoạt động trong việc phân phối nhãn như: không yêu
cầu phía trước, theo yêu cầu phía trước, điều khiển LSP theo lệnh hay tự lập, duy trì tiên
tiến hay lưu giữ. Các chế độ này được thoả thuận bởi LSR trong quá trình khởi tạo phiên
LDP.
1.1.2.2. Giao thức dành trước tài nguyên RSVP (Resource Reservation Protolcol )
RSVP là giao thức báo hiệu đóng vai trò quan trọng trong mạng MPLS, được sử
dụng để dành trước tài nguyên cho một phiên truyền trong mạng Internet. Nó cho phép
các ứng dụng thông báo về các yêu cầu chất lượng dịch vụ với mạng và mạng sẽ đáp ứng
bằng các thông báo thành công hay thất bại.
RSVP yêu cầu các máy nhận lưu lượng về yêu cầu chất lượng dịch vụ QoS cho
luồng dữ liệu. Các ứng dụng tại máy nhận phải giải quyết các thuộc tính QoS sẽ được
truyền tới RSVP. Sau khi phân tích các yêu cầu này, RSVP được sử dụng để gửi các bản
tin tới tất cả các nút nằm trên tuyến đường của gói tin.
RSVP là giao thức riêng ở mức IP. Nó sử dụng các gói dữ liệu IP hoặc UDP ở phần
biên của mạng để thông tin giữa các LSR đồng cấp. Nó không đòi hỏi duy trì phiên TCP,
nhưng sau phiên này nó phải xử lý những mất mát của các bản tin điều khiển.
RSVP mang thông tin trong đó có hai loại cơ bản là PATH và RESV để xác định
luồng và các QoS cho luồng
Một đặc điểm nữa cần phải nhắc đến đối với giao thức này đó là RSVP là giao thức
“trạng thái mềm”. Nó khác với các lạo giao thức khác là trạng thái sẽ tự động hết hiệu lực
sau một thời gian trừ khi nó được làm tươi theo định kỳ.
1.2. Mạng MPLS trên cơ sở VPN
1.2.1. Tổng quan về MPLS/VPN
Mô hình MPLS VPN được xây dựng dựa trên sự khác nhau giữa mạng nhà cung
cấp dịch vụ (mạng P) và mạng khách hàng (mạng C) :

Hình 1.8: Ví dụ mô hình mạng MPLS VPN.


Thiết bị kết nối các site khách hàng tới mạng P được gọi là các thiết bị khách hàng
CE (customer edge device), sau đó các CE nối tới các thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ
PE (provider edge devices).
1.2.2. Các thiết bị trong mạng MPLS VPN
- MPLS core Router (P) : Core router là các router cung cấp dịch vụ (P router),
không duy trì bất kỳ tuyến VPN nào, và không kết nối trực tiếp tới Router của khách
hàng.
- MPLS router biên (PE) : Các router biên PE duy trì các tuyến VPN cho các khách
hàng. Chúng tương đương với router biên khách hàng (CE) và có giao diện kết nối với
router core của nhà cung cấp dịch vụ. Các router PE ngang hàng với các router P hoặc kết
nối trực tiếp với các router PE khác.
- Router biên khách hàng (CE) : các router biên khách hàng không hỗ trợ MPLS và
có thể sử dụng các phương thức định tuyến để kết nối đạt hiệu quả. Các router CE không
bao giờ kết nối trực tiếp tới router P.
1.2.3. Truyền và định tuyến trong MPLS VPN
Mỗi VPN sẽ có một hoặc nhiều trường hợp truyền và định tuyến VPN riêng (VRF).
Một VRF gồm bảng định tuyến IP, bảng CEF (Cisco Express Forwarding).
Mỗi side khách hàng có thể kết nối với nhiều VPN, tuy nhiên một VRF chỉ có thể
định nghĩa một VPN và nó chứa tất cả các tuyến kết nối tới khác hàng từ các VPN khác.
Mỗi khách hàng VPN có thể sử dụng một dải IP riêng, nhưng nếu hai khách hàng
VPN muốn kết hợp chung vào mạng extranet thì địa chỉ phải khác nhau để tránh trường
hợp xung đột địa chỉ.
Các PE sẽ sử dụng bảng định tuyến IP global để chuyển các gói tin. Các bảng định
tuyến và chuyển tiếp VRF được sử dụng để chuyển tiếp thông tin bên trong một VPN. Do
mỗi router PE có nhiều VRF, nên sự kết hợp của bảng VRF và CEF được xem như router
ảo trong router PE vật lý. Mỗi giao diện trên PE sẽ liên quan tới một VRF riêng, các
thông tin định tuyến sẽ được học thông qua các giao diện này.
Router PE có thể học prefix IP từ các router CE qua các phiên BGP hoặc qua các
giao thức RIPv2, OSPF. Sau khi học được IP prefix, PE sẽ chuyển phần tiêu đề này sang
VPN-Ipv4 bằng cách gán thêm 64 bit RD (route distinguisher), tạo ra 96 bit prefix trong
địa chỉ VPN – Ipv4. Giao thức BGP cho phép chuyển các thông tin định tuyến giữa các
router mà không cần chúng phải kết nối trực tiếp với nhau. Đây là giao thức mềm dẻo.
thường được sử dụng trong các mạng MPLS/VPN. BGP sẽ phân phối thông tin mào đầu
VPN-Ipv4 cho mỗi VPN. BGP có thể hoạt động ở cả hai mức : trong cùng hệ thống tự trị
(IBGP) và giữa các hệ thống tự trị khác (EBGP). Các phiên giữa PE-PE sử dụng IBGP,
còn giữa PE-CE thì sử dụng EBGP.
1.2.4. Ưu điểm của MPLS / VPN
- Khả năng mở rộng : MPLS VPN cho phép khả năng mở rộng và phát triển mạng
lớn. Có thể có hàng chục nghìn kết nối VPN qua mạng chung.
- Bảo mật : MPLS VPN có tính bảo mật cao, tương tự như các VPN có hướng (ATM
hoặc Frame Relay). Các gói trong VPN này không thể truyền sang VPN khác. Bảo mật
được thiết lập tại biên của mạng, cho phép các gói nhận được từ khách hàng sẽ được
truyền theo đúng VPN đã cho.
- Tạo / Xoá VPN đơn giản : Các VPN có thể được thêm hoặc bớt dễ dàng tuỳ theo
yêu cầu của khách hàng. Việc này được thực hiện bởi người quản trị.
- Mềm dẻo trong việc tạo địa chỉ : Do mỗi khách hàng có VPN riêng, nên mỗi khách
hàng có thể tự thiết kế dải địa chỉ riêng, độc lập với khách hàng khác. Các khách hàng ở
đầu xa thuộc cùng VPN sẽ kết nối được với nhau.
- Kiến trúc mở : cho phép nhiều nhà cung cấp kết nối, và nhiều thiết bị của hãng khác
nhau kết nối.
- Mạng MPLS hỗ trợ QoS mềm dẻo.
- Tập trung các loại dịch vụ : VPN xây dựng trên layer 3, cho phép truyền tải nhiều
loại dịch vụ từ phía khách hàng qua mạng.
1.3. Tổng kết chương
Trong chương này trình bày một số khái niệm cơ bản về MPLS và MPLS/VPN, quá
trình định tuyến chuyển gói tin trong mạng MPLS. Cấu trúc và các loại gói tin MPLS,
phương thức đóng gói tin trong mạng giúp hiểu rõ hơn phương thức hoạt động của mạng
MPLS. Chương này cũng giới thiệu về các giao thức cơ bản của MPLS như giao thức
phân phối nhãn (LDP), giao thức dành trước tài nguyên, giao thức BGP. Phương thức
hoạt động của MPLS VPN, tính bảo mật và những ưu điểm, nhược điểm của mạng
MPLS VPN. Chính những ưu điểm của mạng MPLS VPN như : khả năng mở rộng, tạo
VPN đơn giản, kiến trúc mềm dẻo,…là lý do khiến mạng MPLS VPN ngày càng chiếm
ưu thế hơn so với các mạng khác.

CHƯƠNG 2

QOS CHO MẠNG MPLS/VPN

2.1. Khái niệm chung:


2.1.1. Kiến trúc cơ bản của QoS
Kiến trúc cơ bản của QoS bao gồm 3 mảng cơ bản :
- Định dạng QoS và kỹ thuật đánh dấu cho phép phối hợp QoS từ điểm đầu tới điểm
cuối giữa từng thành phần mạng.
- QoS trong từng thành phần mạng đơn (các công cụ hàng đợi , lập lịch , định dạng
lưu lượng)
- Cách giải quyết , điều khiển QoS , các chức năng tính toán để điều khiển và giám
sát lưu lượng đầu cuối qua mạng.
2.1.2. Các tham số của QoS
Latency (Độ trễ khi truyền gói tin qua mạng)
Trễ và latency là chỉ số thời gian để truyền tải một bit qua mạng từ nguồn tới đích.
Trễ được tạo ra do khoảng cách truyền, các lỗi, lỗi khôi phục, tắc nghẽn, khả năng xử lý
của mạng bao gồm truyền dẫn và các nhận tố khác.
Có nhiều dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ thời gian thực như truyền thông thoại bị ảnh
hưởng rất nhiều bởi trễ. Có nhiều thành phần gây trễ trong mạng cần được tìm hiểu:
- Trễ đóng gói :
Là lượng thời gian thực hiện mã hoà, giải mã để chuyển đổi hai chiều giữa tương tự
và số, thời gian thực hiện đóng gói và mở gói.
- Trễ lan truyền :
Là lượng thời gian để thông tin truyền liên kết là dây đồng, sợi quang hay không
dây. Nó là hàm của tốc độ ánh sáng.
- Trễ hàng đợi :
Là thời gian gói tin chờ trong hàng đợi để đợi đến lượt mình được xử lý.
Mất gói tin (Loss)
Là hiện tượng khi các gói truyền trong mạng không đến được phía thu. Đây cũng là
một tham số quan trọng của QoS. Nó thường xảy ra khi xuất hiện tắc nghẽn trên đường
truyền các gói, làm cho bộ đệm của router bị tràn. Việc mất gói này gây ra mất mát thông
tin phía thu, tạo ra trễ khi phải truyền lại các gói bị mất hay truyền thông tin thông báo.
Jitter
Jitter là sự khác biệt về trễ của các gói khác nhau trong cùng một dòng lưu lượng.
biến động trễ có tần số cao gọi là các jitter, còn biến động trễ có tần số thấp gọi là
wander. Jitter chủ yếu là do thời gian xếp hàng của các gói liên tiếp trong một luồng và là
vấn đề quan trọng nhất của QoS.
Throughput
Là tốc độ luồng thông tin qua mạng (đơn vị kbps, bps,…). Bình thường trong môi
trường mạng LAN, băng thông càng lớn càng tốt. Đối với từng loại mạng khác nhau cho
phép tốc độ luồng thông qua và kích thước gói tin khác nhau.
Availability
Là tỉ lệ thời gian mạng hoạt động. Độ khả dụng đạt được thông qua sự kết hợp của
độ tin cậy thiết bị với khả năng sống của mạng. Độ khả dụng là một tính toán chính xác
suất.
2.1.3. Các mô hình tổng quan QoS
* Dịch vụ tích hợp IntServ
Đứng trước nhu cầu ngày càng tăng trong việc cung cấp dịch vụ thời gian thực
(thoại, video) và băng thông cao (đa phương tiện), dịch vụ tích hợp IntServ đã ra đời.
Đây là sự phát triển của mạng IP nhằm đồng thời cung cấp dịch vụ truyền thống Best
Effort và các dịch vụ thời gian thực.
Mô hình IntServ cho phép nhà cung cấp mạng tung ra những dịch vụ tốt nhất, khác
biệt với các đối thủ cạnh tranh khác.

Hình 2.1: Mô hình mạng IntServ.


Trên thực tế giao thức RSVP là giao thức duy nhất dùng để báo hiệu cho mô hình
IntServ. Vì thế đôi khi người ta lầm lẫn dùng RSVP để nói về IntServ.Thật ra, IntServ là
kiến trúc hỗ trợ chất lượng dịch vụ mạng, còn RSVP là giao thức báo hiệu cho IntServ.
Ngoài giao thức báo hiệu, mô hình tích hợp dịch vụ còn định nghĩa thêm một số lớp
dịch vụ.
Các bộ định tuyến phải có khả năng thực hiện các công việc sau:
• Kiểm soát (bằng các policing): kiểm tra TSpec của luồng lưu lượng; nếu không phù
hợp thì loại bỏ luồng.
• Điều khiển chấp nhận: kiểm tra xem tài nguyên mạng có đáp ứng được yêu cầu của
ứng dụng hay không. Nếu không thể đáp ứng, mạng sẽ từ chối.
• Phân lớp (Classification): phân loại gói dữ liệu căn cứ vào mức yêu cầu chất lượng
dịch vụ của gói.
• Hàng đợi và lập lịch (queuing and scheduling): đưa gói dữ liệu vào hàng đợi tương
ứng và quyết định hủy gói dữ liệu nào khi xảy ra xung đột.
* Giao thức dành trước tài nguyên RSVP
- RSVP là giao thức báo hiệu cung cấp thủ tục để thiết lập và điều khiển quá trình
chiếm giữ tài nguyên, hay nói cách khác RSVP cho phép các chương trình ứng dụng
thông báo cho mạng những yêu cầu về mức chất lượng dịch vụ; và mạng sẽ hồi đáp chấp
nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đó.
- Các bản tin RSVP được các bộ định tuyến hay các bộ chuyển mạch trên liên kết
giữa hai đầu cuối gửi và nhận trao đổi với nhau để đáp ứng yêu cầu về mức chất lượng
dịch vụ của ứng dụng.
- RSVP đóng vai trò quan trọng trong quá trình triển khai việc chuyển tải nhiều dịch
vụ như: âm thanh, hình ảnh và dữ liệu trong cùng một hạ tầng mạng. Các ứng dụng có thể
lựa chọn nhiều mức chất lượng dịch vụ khác nhau cho luồng lưu lượng của mình.
* Kiến trúc IntServ
- Cấu trúc của các bộ định tuyến và các bộ chuyển mạch có hỗ trợ RSVP trong mạng

Hình 2.2: Mô hình dịch vụ IntServ.


- Như vậy ta thấy cấu trúc gồm các khối:
• Khối điều khiển lưu lượng bao gồm: bộ phân loại (Classifier), bộ lập lịch gói
(scheduler).
• Khối điều khiển thu nhận và thiết lập dự trữ (set up).
- Đầu tiên các ứng dụng đưa ra yêu cầu lớp dịch vụ: đảm bảo dịch vụ hoặc kiểm soát
tải đồng thời đặt đường dẫn và chiếm giữ tài nguyên mạng cho việc truyền dữ liệu. Khối
điều khiển thu nhận sẽ xem xét có thể đáp ứng được các yêu cầu mà dịch vụ đưa ra hay
không. Bộ phân loại tiến hành phân loại và đưa các gói dữ liệu nhận được vào hàng đợi
riêng. Bộ lập lịch sẽ lập cách xử lý để đáp ứng yêu cầu về chất lượng dịch vụ.

Hình 2.3: Trao đổi thông tin với IntServ.


Các ứng dụng đưa ra yêu cầu mức chất lượng dịch vụ dành cho luồng lưu lượng xác
định qua giao diện dịch vụ ứng dụng. Bộ điều khiển thu nhận và thiết lập dự trữ đáp ứng
yêu cầu của các ứng dụng bằng cách tạo ra các bản tin của giao thức RSVP yêu cầu
chiếm giữ tài nguyên. Tại mỗi bộ định tuyến, khối điều khiển thu nhận sẽ tiến hành quá
trình điều khiển chấp nhận kết nối, quyết định xem có thể đáp ứng được yêu cầu chất
lượng dịch vụ mà ứng dụng đưa ra hay không. Nếu được, bộ định tuyến sẽ dựa vào thông
tin trong bản tin RSVP để cấu hình cho bộ điều khiển lưu lượng.
* Dịch vụ phân biệt DiffServ

Hình 2.4: Mô hình mạng DiffServ.


- Cấu trúc của mô hình DiffServ bao gồm nhiều lớp dịch vụ và mỗi lớp sẽ được cung
cấp một lượng tài nguyên xác định.
- Mô hình DiffServ, trên mỗi gói dữ liệu sẽ chứa thông tin xác định lớp dịch vụ.
Thông tin này được gọi là điểm mã dịch vụ phân biệt DSCP (Differentiated Service Code
Point) của tiêu đề IP, tiền thân là vùng ToS (Type of Service). Như vậy trên lý thuyết có
tất cả 64 lớp dịch vụ khác nhau nhưng trong thực tế số lượng lớp dịch vụ ít hơn nhiều.
- Mỗi thiết bị định tuyến sẽ lưu giữ một bảng ánh xạ giá trị DSCP của gói với giá trị
PHB, từ đó xác định phương thức xử lý gói.

Hình 2.5: Mô hình DiffServ tại biên và mạng lõi.


* Sự khác nhau giữa IntServ và DiffServ
Trong một mạng sử dụng QoS, chúng ta có thể không cần dùng đến IntServ hay
DiffServ mà mạng vẫn chạy bình thường, tuy nhiên nếu có ứng dụng DiffServ hay
IntServ vào thì sẽ cho kết qua tốt hơn nhiều, và có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ cao
hơn.
DiffServ ra đời để khắc phục các khuyết điểm của IntServ, giữa chúng có những sự
khác nhau:

Bảng 2.1 : Sự khác nhau giữa DiffServ và IntServ.


DiffServ IntServ
Không dùng bất kì giao thức báo Dùng giao thức báo hiệu RSVP để
hiệu nào để dành trước băng thông dành trước băng thông mạng, do đó sẽ tốn
mạng, do vậy tiết kiệm được băng tài nguyên mạng vô ích.
thông mạng.
Có thể sử dụng cho mạng lớn và cả Chỉ có thể sử dụng cho mạng cỡ nhỏ
mạng nhỏ với số lưu lượng rất lớn với số lượng lưu lượng nhỏ
Ít tốn tài nguyên mạng Tốn nhiều tài nguyên mạng

Xét ưu tiên gói trên từng chặng Khởi tạo một kênh truyền trước khi
truyền
Khả năng mở rộng mạng cao và Khả năng mở rộng mạng thấp và phục
phục vụ đa dịch vụ vụ ít dịch vụ.

2.2. Các tập tính năng của QoS


2.2.1. Phân loại
- Phân loại được thực hiện để nhận dạng lưu lượng và phân chia lưu lượng thành các
lớp khác nhau.
- Với việc sử dụng phân loại gói, nhà quản trị mạng có thể phân vùng lưu lượng
mạng thành nhiều mức ưu tiên hay nhiều lớp dịch vụ. Việc phân loại nên được đặt ở biên
mạng.
- Để có thể phân loại được gói tin, thông thường phải kiểm tra một số trường trong
headers, sau khi phân loại, một QoS tool sẽ đưa gói tin vào hàng đợi thích hợp.
Hình 2.6: Mô hình phân loại gói tin.
Việc phân loại được thực hiện ở tất cả các router trên links kết nối.
2.2.2. Đánh dấu
- Việc đánh dấu được thực hiện sau khi đã phân loại gói tin. Một số bộ mô tả lưu
lượng được sử dụng để đánh dấu gói như: lớp dịch vụ (CoS), DSCP, độ ưu tiên IP, nhóm
QoS, chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS).
- Việc đánh dấu gói hay khung cùng với việc phân loại cho phép thiết bị mạng dễ
dàng phân biệt các gói hay khung đã được đánh dấu.
- Việc đánh dấu thường xảy ra tại lối vào của interface.
Bảng 2.2 : Một số trường dùng để đánh dấu gói tin.

2.2.3. Kỹ thuật hàng đợi


Vì tốc độ xử lý các gói tin của router là chậm hơn nhiều so với số lượng gói tin đến
và cần truyền đi, vì vậy các gói tin cần phải xếp hàng và đợi trong một hàng dài nếu như
không muốn bị mất, do đó kĩ thuật hàng đợi cần được áp dụng cho các router. Thường thì
hàng đợi chỉ xảy ra ở lối ra của router khi đó ta gọi là hàng đợi lối ra (output queuing),
nhưng đôi khi hàng đợi cũng xảy ra ở lối vào ta gọi là hàng đợi lối vào (input queuing).

Hình 2.7: Hàng đợi trong router.


Hình trên là một ví dụ về hàng đợi, lối vào với 4 gói tin kích thước 1500 byte mỗi
gói, ở đây ta có hai hàng đợi :hàng thứ 1 đang có 3 gói tin đang chờ và băng thông của
hàng này là 25% tổng băng thông, hàng thứ 2 chỉ có 1 gói tin đang chờ với băng thông là
75%. Gói tin nào được gởi trước là tùy thuộc vào mức độ ưu tiên của hàng đợi đó và
hàng đợi đó như thế nào so với các hàng đợi khác.
 First In-First Out Queuing:
- Hàng đợi FIFO không có sự phân loại vì tất cả các gói đều thuộc về cùng một lớp.
Một bộ định tuyến hay bộ chuyển mạch cần các hàng đợi xuất để giữ các gói trong khi
chờ bộ giao tiếp sẵn sàng gửi gói. Trong khi các công cụ hàng đợi khác thể hiện các tính
năng khác, như sắp xếp trật tự các gói, hàng đợi FIFO chỉ cung cấp một ý nghĩa giữ các
gói trong khi chúng chờ để rời khỏi một cổng giao tiếp (interface). Hàng đợi FIFO sử
dụng một hàng đợi đơn cho bộ giao tiếp. Vì chỉ có một hàng đợi nên không cần phân lớp
để quyết định khi gói đi vào. Và cũng không cần lập lịch ban đầu để cho hàng đợi lấy gói
tiếp theo. Chỉ quan tâm đến cách cấu hình chiều dài hàng đợi FIFO tránh tác động đến độ
trễ và mất gói.
- Hàng đợi FIFO sử dụng kỹ thuật hủy gói cuối hàng đợi để quyết định khi nào bỏ gói
hay cho gói vào hàng đợi. Nếu cấu hình một hàng đợi dài hơn, nhiều gói có thể đặt trong
hàng đợi, nghĩa là hàng đợi ít khả năng đầy. Nếu không gian hàng đơi còn trống nhiều thì
gói ít bị mất. Tuy vậy, với một hàng đợi dài, độ trễ và độ biến động trễ của gói tăng. Với
hàng đợi ngắn, độ trì hoãn ít xuất hiện hơn, nhưng hàng đợi FIFO đơn sẽ đầy nhanh
chóng, lúc này các gói mới sẽ bị hủy bỏ.
Hình 2.8: Hàng đợi FIFO.
 Priority Queuing
- Tính năng đặc biệt của PQ là ở bộ lập lịch. PQ lập lịch lưu lượng đảm bảo hàng đợi
ưu tiên luôn được phục vụ trước. Với 4 mức ưu tiên: cao, trung bình, bình thường, và
thấp. Nếu hàng đợi ưu tiên cao luôn có một gói đang chờ, bộ lập lịch luôn luôn lấy các
gói trong hàng đợi ưu tiên cao. Nếu hàng đợi ưu tiên cao không có gói nào đang chờ
nhưng có trong hàng đơi ưu tiên trung bình, một gói trong hàng đợi này sẽ được lấy và
tiến trình cứ như thế tiếp tục.
- Bộ lập lịch PQ có một số thuận lợi và hạn chế. Các gói trong hàng đợi ưu tiên cao
có thể đạt 100% băng thông liên kết, với độ trì hoãn nhỏ và độ biến động trễ nhỏ. Thật ra,
khi nghẽn mạch, các gói trong hàng đợi ưu tiên thấp tốn nhiều thời gian phục vụ. Khi liên
kết tắc nghẽn, các ứng dụng người dùng có thể ngừng làm việc nếu các gói đặt trong
hàng đợi ưu tiên thấp.
- PQ phân lớp các gói dựa trên nội dung của các tiêu đề. Nó sử dụng tối đa 4 hàng
đợi. Chỉ áp dụng chính sách hủy gói cuối hàng đợi (tail drop), mặt khác sau khi phân lớp
các gói, nếu hàng đợi tương ứng đầy, các gói bị bỏ. Mặt khác, chiều dài mỗi hàng đợi là
nguyên nhân ảnh hưởng đến độ trễ và mất gói. Thật ra, PQ có thể thiết lập chiều dài hàng
đợi trở về giá trị 0, có nghĩa là chiều dài hàng đợi “không giới hạn”. (“không giới hạn” có
nghĩ là khi bộ định tuyến ra ngoài vùng nhớ, các gói không thể lập lịch, tuy nhiên chúng
ta gặp vấn đề rắc rối hơn việc lập lịch cho gói nếu bộ định tuyến ngoài vùng nhớ.)
Hình 2.9: Tiến trình gởi gói tin của hàng đợi ưu tiên (PQ).
 Custom Queuing
Custom Queuing (CQ) là kĩ thuật hàng đợi ra đời sau PQ, không giống như PQ, CQ
sẽ phục vụ cho tất cả các hàng đợi có trong interface của nó thậm chí khi sảy ra nghẽn
mạng. CQ có tất cả 16 hàng đợi, như vậy nó cho phép tối đa 16 lớp dịch vụ (vừa đủ cho
các loại dịch vụ ngày nay). CQ còn không cung cấp cho một hàng đợi đặc biệt nào đó có
mức ưu tiên cao hơn các hàng đợi khác và cũng không ưu tiên hàng đợi nào có low delay,
low jitter, low loss…Nó cung cấp băng thông như nhau cho mỗi hàng đợi.

Hình 2.10: Tiến trình gửi gói tin của hàng đợi CQ.
CQ sẽ kiểm tra lần lượt các hàng đợi, bắt đầu từ hàng đợi thứ 1, CQ sẽ lấy gói tin từ
hàng đợi này cho tới khi số gói tin mà nó lấy vượt quá hoặc bằng giá trị cho phép, sau khi
hàng đợi này đã được phục vụ với số gói tin nhu trên hoạc hàng đợi này không có gói tin
thì CQ sẽ chuyển qua phục vụ cho hàng đợi kế tiếp và quá trình lặp lại như trên.
Đặc điểm của CQ :
+ Không thích hợp cho các mạng cần low delay, low jitter,...
+ Không thể dành trước băng thông cho link.
+ Không cung cấp hàng đợi ưu tiên.
+ Không thích hợp cho Voice
+ Cho phép các hàng đợi được phục vụ xoay vòng.
+Cho phép các hàng đợi bình đẳng nhau.
 Weighted Fair Queuing
WFQ là kĩ thuật hàng đợi mặc định trong router Cisco, nó khác với các hàng đợi PQ
và FIFO ở các điểm sau:
+ Nó không cho phép cấu hình phân loại, WFQ phân loại gói tin theo flow, một flow
bao gồm nhiều gói tin có cùng đích đến và cùng nguồn, cùng port đích và port nguồn.
hững flow nào có độ ưu tiên cao hơn thì sẽ được phát trước.
+ Mỗi flow là một hàng đợi, vì vậy số hàng đợi trong WFQ có thể lên tới 4096 hàng
đợi lớn hơn rất nhiều so với PQ hay FIFO.
Với WFQ ta có tối đa là 4096 hàng đợi trong 1 interface của router, số hàng đợi này
cũng chính là số flow chảy vào router. Ví dụ: ta có 5 flow là Voice, 2 kết nối HTTP, 2 kết
nối FTP thì khi đó ta sẽ có 5 hàng đợi trong router, như vậy số hàng đợi thay đổi theo số
flow, chúng không cố định như trong các kĩ thuật khác

Hình 2.11: Cách lấy gói tin của WFQ.


Khi gói tin vào interface, nó sẽ được phân loại thành các flow theo 5 thông số:
+ IP source
+ IP destination
+ port source
+ port destination
WFQ dựa vào các trường như DSCP, ToS để phân loại gói tin và đưa nó vào các
hàng đợi khác nhau. Những gói tin có IP precedent hay DSCP cao hơn sẽ có mức ưu tiên
cao hơn. Gói nào có mức ưu tiên thấp hơn sẽ bị loại bỏ khi có tắc nghẽn.[4]

Hình 2.12: Tiến trình gửi gói tin của WFQ.


Tiếp theo các gói tin nếu không bị drop sẽ đưa vào hàng đợi và chờ phát đi. Khi
nằm trong hàng đợi các gói tin sẽ được lập lịch (scheduler logic), quá trình lập lịch dựa
vào SN của gói tin, precedent và volume (số gói tin đang có trong một hàng đợi).
+ Những gói tin có SN càng nhỏ, precedent càng lớn, và volume càng nhỏ sẽ được
chọn forward trước.
+ Thứ tự ưu tiên như sau: Đầu tiên là SN, sau đó là precedent, và cuối cùng là
volume.
 Class-Based Weighted Fair Queuing
Class-Based Weighted Fair Queuing (CBWFQ) là kĩ thuật hàng đợi ra đời sau
WFQ, nó giống với WFQ ở chỗ: Cho phép sử dụng WFQ ngay bên trong một hàng đợi
của nó, nhưng khác với WFQ ở chỗ: CBWFQ sử dụng Class để phân loại còn WFQ sử
dụng flow.
WRED là kĩ thuật hàng đợi dùng để chống nghẽn, nó tốt cho một số loại dữ liệu
nhưng cũng không tốt cho các dữ liệu như Voice hay Video vì các dữ liệu này cần không
bị rớt trong mọi trường hợp. CBWFQ vượt trội hơn các hàng đợi WFQ ở chỗ: Nó phân
loại gói tin theo Class chứ không theo flow, như vậy dễ dàng cho ta thiết kế hơn.
Đặc tính của CBWFQ :
+ CBWFQ phân loại gói tin bằng ACLs, MPLS EXP, Port….
+ Quyết định drop gói tin bằng các kĩ thuật Tail drop hoặc WRED
+ Số hàng đợi tối đa là 64 và chiều dài hàng đợi tối đa là 64, các giá trị này là mặc
định ta có thể set tùy theo ý muốn.
+ Bên trong mỗi hàng đợi ta có thể dùng FIFO hoặc WFQ.

Hình 2.13: Tiến trình gởi gói tin của CBWFQ.


 Low-latency Queuing
Low-latency Queueing (LLQ) là một kĩ thuật hàng đợi mà ở đó nó cho phép gói tin
được phục vụ với chất lượng cao nhất (low delay, low jitter, low loss …).Nó đơn giản để
cấu hình và đơn giản để hiểu. LLQ không phải là một hàng đợi tách biệt với các kĩ thuật
hàng đợi khác, nó được sử dụng bên trong một kĩ thuật hàng đợi nào đó để làm tăng tính
ưu tiên cho hàng đợi này, những hàng đợi có dùng LLQ thì nó được đối xử giống như
hàng đợi PQ, nhưng với PQ thì nó không đảm bảo băng thông cho các hàng đợi khác còn
với LLQ thì mặc dù vẫn có hàng đợi ưu tiên nhưng nó vẫn đảm bảo băng thông cho các
hàng đợi không có LLQ.
Hình 2.14: Tiến trình gửi gói tin của hàng đợi LLQ.
Khi hàng đợi LLQ vượt quá tốc độ cho phép hay băng thông cho phép thì các gói tin
trong hàng đợi này sẽ bị rớt và chuyển qua phục vụ cho hàng đợi khác. Như vây hàng đợi
LLQ chỉ có thể hoạt động ở tốc độ đã được thiết lập từ trước và không thể tranh chấp với
các hàng đợi khác khi nó cần thêm băng thông, vậy các hàng đợi khác đã được đảm bảo
về băng thông.
Hàng đợi LLQ có ý nghĩa rất lớn trong các dữ liệu là Voice, Video…vì nó cho phép
các dữ liệu này nhận được sự phục vụ tốt nhất có thể: low delay, low jitter, low loss.
2.3. QoS trong MPLS
2.3.1. Khái niệm các trường IPP, DSCP, MPLS Exp
* Trường IPP (IP Precedence)

Hình 2.15: kiến trúc tiêu đề gói tin IP.


Trong phần tiêu đề gói tin IP có trường TOS (type of service) biểu diễn loại dịch vụ
gói tin. Các trường này được sử dụng để biểu thị chất lượng dịch vụ.
Hình 2.16: Các byte trường TOS.
Từ bit 0 đến bit 2: là 3 bit precedence, chúng được sử dụng hiển thị QoS. Nhưng 3
bit mới chỉ đạt được 8 mức, nên IETF đã bổ sung thêm các bit khác. Trong trường TOS
từ bit 3 đến bit 5 được sử dụng cho QoS, tạo nên trường DSCP. 6 bit dành cho QoS tăng
mức hiển thị lên 54 mức.
Bảng 2.3: Các giá trị của IPP.
IP precedence value Binary value Priority
0 000 Routine
1 001 Priority
2 010 Immediate
3 011 Flash
4 100 Flash override
5 101 Critical
6 110 Internetwork Control
7 111 Network Control

* Trường DSCP

Hình 2.17: Các byte DSCP.


DSCP là phần mở rộng thêm của trường IP Precedence. Có 2 loại :
- EF (Expedited forwarding): đảm bảo việc mất gói khó xảy ra, băng thông luôn
được đảm bảo, dịch vụ ent to end phải qua miền Diffserv
- AF (Assured forwarding): các dịch vụ truyền qua được đảm bảo, và thông qua
miền Diffserv.
Bảng 2.4: Các giá trị trường DSCP
DSCP value Binary Name
DSCP 0 000000 Default
DSCP 8 001000 CS1
DSCP 16 010000 CS2
DSCP 24 011000 CS3
DSCP 32 100000 CS4
DSCP 40 101000 CS5
DSCP 48 110000 CS6
DSCP 56 111000 CS7
DSCP 10 001010 AF11
DSCP 12 001100 AF12
DSCP 14 001110 AF13
DSCP 18 010010 AF21
DSCP 20 010100 AF22
DSCP 22 010110 AF23
DSCP 26 011010 AF31
DSCP 28 011100 AF32
DSCP 30 011110 AF33
DSCP 34 100010 AF41
DSCP 36 100100 AF42
DSCP 38 100110 AF43
DSCP 46 101110 EF
CS : Class selector
EF : Expecdited forwarding
AF : Assured forwarding

Hình 2.18: Các byte TOS của IP header định nghĩa DSCP.
Bảng 2.5: Các lớp AF
Drop precedence Class 1 Class 2 Class 3 Class 4
Low 001010 010010 011010 100010
Medium 001100 010100 011100 100100
High 001110 010110 011110 100110

* Trường MPLS Exp


Trong tiêu đề gói IP có trường TOS biểu diễn chất lượng dịch vụ trong mạng IP, còn
trong mạng MPLS trong tiêu đề gói MPLS có 3 bit MPLS và 3 bit Exp dùng để biểu diễn
chất lượng dịch trong mạng MPLS.
Hình 2.19: MPLS header.
Các bit Exp (Experimental) trong header của gói MPLS tương tự như các bit
Precedence trong gói IP. Nếu dùng các bit này cho QoS, thì gọi là các đường chuyển
mạch nhãn E-LSP. Tuy nhiên khi sử dụng MPLS có nhiều tùy chọn cho việc thực hiện
QoS cho các gói được đánh nhãn. Một LSP là một đường đơn qua mạng giữa hai router.
Có thể sử dụng nhãn trên phần đầu của gói để hiển thị QoS. Tuy nhiên sau đó cần phải có
một nhãn trên mỗi lớp cho từng luồng lưu lượng giữa 2 điểm đầu cuối của LSP. Do đó
giao thức báo hiệu sẽ chỉ báo hiệu giữa các nhãn khác nhau cho cùng LSP hoặc prefix.
Khi LSP là loại L-LSP, nó sẽ chỉ thị một phần thông tin QoS. Các bit EXP sẽ chỉ lưu giữ
một phần thông tin QoS về độ ưu tiên mất gói. Còn với E-LSP lưu giữ đồng thời cả thông
tin về class và độ ưu tiên mất gói. Khi LSR chuyển các gói được đánh nhãn đi, nó cần tìm
kiếm nhãn trong bảng chuyển nhãn LFIB (Label forwarding table) để quyết định xem
chuyển gói đi đâu. Điều này cũng giống với cách làm việc của QoS. LSR chỉ cần nhìn
vào các bit EXP trong phần đầu nhãn để quyết định nên xử lý gói thế nào. Do QoS bao
gồm nhiều tính năng : đánh dấu lưu lượng, quản lý tắc nghẽn, tránh tắc nghẽn, đồng thời
QoS sử dụng các hàng đợi trể thấp LLQ, CBWFQ, WRED, các chính sách định dạng và
bắt giữ gói tin. Do đó, ta có thể sử dụng các tính năng của QoS dựa trên các bit EXP cho
các gói được đánh nhãn. Ví dụ : kiểu hàng đợi WRED có thể được chỉnh sửa theo bit
EXP để quyết định gói tin đã đánh nhãn nào sẽ bị loại bỏ khi ở trong hàng đợi.
2.3.2. Các kiểu Diffserv tunneling trong mạng MPLS
Diffserv Tunneling được biết đến như kiểu PHB (PerHop Behavior), cho phép QoS
được phân biệt trên từng chặng trong mạng của nhà cung cấp dịch vụ. Mạng MPLS hỗ
trợ Diffserv chia thành các loại tunneling sau :
 Kiểu Pipe tunnel
Trong kiểu Pipe thì thông tin Diffserv LSP không cần thiết phải bắt nguồn thông tin
tunnel diffserv trên đầu vào LSR. Trên LSR trung gian (Router P), thông tin LSP diffserv
của nhãn phía đầu ra được bắt nguồn từ thông tin LSP diffserv đầu vào.
Tại các LSR đầu ra, định hướng của gói tin dựa trên thông tin LSP diffserv, và các
thông tin này không được quảng bá thông tin tunnel diffserv.
Hình 2.20: Kiểu đường ống - pipe model.
Nếu mạng MPLS nhận được các gói IP trên LSR đầu vào và mạng MPLS chỉ sử
dụng các E-LSP, thì phương pháp đường ống rất đơn giản. Các thông tin tunnel diffserv
là các bit precedence hoặc các bit DSCP trong gói tin IP. Nhà cung cấp dịch vụ cho
khách hàng VPN cam kết về chất lượng dịch vụ giữa router CE này tới router CE khác
trong cùng VPN. Còn các node trung gian trong mạng backbone (Router P) hoàn toàn
trong suốt.
Các gói đi qua đường hầm phải chuyển hai mảng thông tin Diffserv :
- Thông tin Diffserv có ý nghĩa với các node trung gian đọc LSP (thông tin Diffserv
LSP).
- Thông tin Diffserv được router ingress vận chuyển đến router egress, các Router P
không biết các thông tin này (thông tin tunneled Diffserv)
Mô hình pipe sử dụng thích hợp khi khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ thuộc về
miền Diffserv khác nhau, khi nhà cung cấp dịch vụ muốn áp đặt chính sách của họ và
khách hàng có yêu cầu rằng các chính sách QoS của khách hàng hoàn toàn trong suốt khi
đi qua mạng của nhà cung cấp.
 Mô hình short pipe
Mô hình short pipe cũng tương tự như mô hình pipe, nhưng trong mô hình short
pipe, bất kỳ sự thay đổi nào trong việc đánh dấu nhãn xảy ra trong mạng nhà cung cấp
dịch vụ không được truyền đến byte IP TOS khi gói tin đi ra khỏi mạng MPLS.
Mô hình short pipe sử dụng thích hợp khi nhà cung cấp dịch vụ VPN và khách hàng
yêu cầu chính sách Diffserv của họ áp đặt trên kết nối từ egress PE đến site VPN đích
hơn là chính sách QoS của nhà cung cấp dịch vụ trên đó. Mô hình short pipe có đặc điểm:
- Đường hầm QoS đi từ router PE ingress đến router PE egress
- Router PE egress truyền gói tin là IP và QoS thực hiện trên router ngõ ra dựa trên
giá trị IP DSCP hoặc IP Precedence
- Nhà cung cấp dịch vụ không viết chồng lên giá trị DSCP hoặc IP Precedence trong
mạng nhà cung cấp dịch vụ.

Hình 2.21: Mô hình short pipe


 Mô hình uniform
Mô hình uniform sử dụng thích hợp khi khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ
cùng miền difserv. Do đó nó không cần phải đi qua đường hầm để vận chuyển thông
diffserv. Bất kỳ gói tin nào mang thông tin diffserv hợp lệ luôn luôn được gán vào nhãn
ngoài cùng. Nhưng nếu thông tin diffserv được mã hóa tại các entry nhãn ở phía trong thì
coi như nó không hợp lệ và bị loại bỏ.
Trong mô hình uniform :
- Thông tin LSP diffserv phải được bắt đầu từ thông tin tunnel diffserv trên LSR
ingress.
- Trên router LSR trung gian (router P), thông tin LSP diffserv của nhãn ra đầu ra
được bắt đầu từ thông tin LSP diffserv của nhãn đầu vào.
- Trên LSR egress, thông tin LSP diffserv phải được quảng bá thông tin tunnel
diffserv.
Hình 2.22: Mô hình uniform.
2.4. QoS cho mạng MPLS/VPN
 Thiết lập QoS cho lưu lượng qua mạng MPLS/VPN
QoS sẽ được thiết lập dựa trên loại lưu lượng qua mạng. Lưu lượng truyền qua
mạng dưới dạng các luồng lưu lượng, chúng được phân loại dựa vào các chức năng hoặc
các điểm đầu cuối. Lưu lượng có thể bao gồm các ứng dụng như: giao thức thông báo
dịch vụ SAP, CAD/CAM, email, voice, video, lưu lượng quản lý và điều khiển hệ thống.

Hình 2.24: Các lớp dịch vụ của QoS.


* QoS cho lưu lượng dạng voice
Những lưu lượng voice từ điểm này tới điểm khác đều yêu cầu chất lượng dịch vụ :
- Trễ ≤ 150ms
- Jitter ≤ 30ms
- Packet loss ≤ 1%
- Băng thông ưu tiên cho mỗi cuộc gọi : 17 -> 106 kbps
- Băng thông đảm bảo cho lưu lượng điều khiển voice là 150 bps
Cấu hình hỗ trợ lưu lượng voice trên router CE, sử dụng các chính sách LLQ và
CBWFQ
* QoS cho lưu lượng dạng video
Lưu lượng dạng video có những yêu cầu về chất lượng:
- Không yêu cầu jitter, cho phép trễ 4-> 5s (tùy thuộc vào khả năng bộ đệm của ứng
dụng video)
- Cho phép packet loss là 2%. Băng thông yêu cầu phụ thuộc vào kiểu mã hóa và tốc
độ luồng video.
- Không nhạy với độ trễ và jitter.
- Cho phép truyền file lớn
Tuy nhiên đối với truyền hình hội nghị (videoconferencing), điểm – điểm hoặc hội
nghị đa điểm thì các yêu cầu về QoS có điểm khác :
- Trễ ≤ 150 ms (theo chuẩn ITU G.114)
- Jitter ≤ 30 ms
- Packet loss ≤ 1%
- Băng thông đảm bảo tối thiểu cho mỗi phiên truyền hình hội nghị là thêm 20%. Ví
dụ : một phiên truyền hình hội nghị 384kbps yêu cầu băng thông ưu tiên đảm bảo tối
thiểu là 460 kbps.
Các yêu cầu về độ trễ, jitter, packet loss về cơ bản giống với truyền voice, tuy nhiên
lưu lượng video sẽ truyền dưới dạng bó có kích thước lớn, yêu cầu nhiều băng thông hơn.
Ví dụ cấu hình lưu lượng loại video gán trên LLQ, các lưu lượng không phải video
gán trên WFQ
* Yêu cầu QoS với lưu lượng kiểu Data
Các loại lớp data :
- Data có băng thông đảm bảo : luồng video, messaging, intranet
- Best effort (default class): Internet browsing, email, các loại ứng dụng không phân
lớp.
2.5. Tổng kết chương
Chương này trình bày sâu hơn về QoS trong mạng MPLS/VPN. Phần một nêu chi
tiết các thông số thiết lập QoS trong phần header của gói tin MPLS, đồng thời cũng giới
thiệu các mô hình thiết lập trong trong mạng MPLS/VPN với những ưu điểm, nhược
điểm của từng loại. Ứng với mỗi loại dịch vụ khách nhau, có các tham số QoS khác nhau.
Phần hai đi sâu vào cấu hình thiết lập QoS ứng với từng loại dịch vụ, và các bước tổng
quan cấu hình QoS cho mạng MPLS.
CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP QOS CHO MẠNG TRUYỀN SỐ LIỆU


CHUYÊN DÙNG CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC

3.1. Phân tích mô hình mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và
Nhà nước
Mạng TSLCD có kiến trúc phân lớp, cho phép mở rộng, khắc phục các sự cố dễ
dàng. Mạng gồm 3 lớp:
- Lớp core
- Lớp distribution
- Lớp Access
3.1.1. Lớp mạng core
- Ba core đặt tại 3 thành phố lớn: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Tại 3 core
này đặt Core Router 7613, Core Switch 6509, Internet Gateway Router 7606, Router
Reflector 7301, Agg Router 7606,… Ba Core này được kết nối với nhau thông qua kết
nối STM-4 POS. Tại mỗi core được vận hành theo kiểu active – standby. Dữ liệu sẽ chọn
một trong 2 kết nối đang có sẵn, khi kết nối STM-4 hoặc Core Router chính gặp trục trặc,
hệ thống sẽ tự động chuyển sang kết nối STM-4 dự phòng.
- 63 PoP tỉnh đặt tại 63 tỉnh thành chia thành 3 vùng: miền Bắc, miền Trung và
miền Nam. Mỗi Pop tỉnh kết nối đến Core tương ứng qua kết nối STM1 và 3E1.Các Pop
tỉnh sẽ kết nối đến các UBND Tỉnh và Tỉnh ủy thông qua truyền dẫn quang.
3.1.2. Lớp Distribution
Lớp distribution tập trung các nút từ lớp access. Lớp này bao gồm các router và
switch lớp 3, đảm bảo các gói tin được định tuyến giữa các subnet và các VLAN trong
mạng. Lớp distribution cung cấp các chính sách :
- Lọc gói tin (firewalling): Xử lý các gói và định tuyến các gói dựa trên thông tin
nguồn và đích.
- QoS : Router và các chuyển mạch lớp 3 đọc các thông tin trong phần tiêu đề gói
tin, dựa vào trường ưu tiên để truyền gói tin.
- Tổng hợp các liên kết từ lớp access.
- Cho phép xây dựng kết nối (Gateway) tới các kiến trúc mạng khác
Khả năng của lớp distribution được cung cấp thông qua các đường có giá trị cost
bằng nhau tới lớp core và tới lớp access. Điều này quyết định khả năng hội tụ của liên kết
và dự phòng khi có lỗi đường truyền.
Trong mạng TSLCD lớp distribution/Access sử dụng các router 7606 có chức năng
đồng thời làm aggregation router và access router cho mạng WAN và mạng Metro.

3.1.3. Lớp Access


Lớp Access gồm các thiết bị phía khách hàng cho phép sử dụng các dịch vụ được
cung cấp bởi lớp distribution và lớp core. Thiết bị đặt tại phía khách hàng thường là
switch cat 500. Mạng phía khách hàng sẽ được cung cấp tunnel riêng để truy cập vào
mạng MPLS/VPN.
3.1.4. Yêu cầu chất lượng đối với mạng Truyền số liệu chuyên dùng
Mạng truyền số liệu chuyên dùng cung cấp một hạ tầng truyền thông mạnh và hiện
đại cho các cơ quan Đảng và Nhà nước là cơ sở để các cơ quan Đảng, Chính phủ, các cơ
quan Bộ, Ngành, tỉnh/ thành tổ chức xây dựng các mạng diện rộng và hệ thống cơ sở dữ
liệu của riêng mình và chia sẻ tài nguyên thông tin chung trên toàn quốc, đồng thời tiết
kiệm được chi phí truyền thông rất lớn mà các cơ quan này phải chi trả để thuê đường
truyền. Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạng tin học diện rộng của Chính
phủ lan rộng khắp toàn quốc và cho phép ứng dụng các thành tựu công nghệ mới trong cả
hai lĩnh vực tin học và viễn thông.
Mạng truyền số liệu chuyên dùng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ trên mạng như
truy cập Internet, L2 VPN, L3 VPN, Truyền hình hội nghị, Voice IP, Hosting…. Do đó,
việc nghiên cứu thiết kế QoS cho mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng
và Nhà nước là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng việc:
- Đảm bảo tính liên tục, chính xác của các thông tin điều hành quan trọng của các
cơ quan Đảng và Nhà nước truyền qua mạng luôn được ưu tiên ở mức băng thông
nhất định, tránh bị mất gói khi có tắc nghẽn xảy ra.
- Đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng mạng lưới, chất lượng
dịch vụ đối với các dịch vụ ngày càng có yêu cầu cao về thời gian thực như
Truyền hình hội nghị, thoại IP…
- Việc phân loại các dịch vụ vào các lớp QoS khác nhau để có các cách đối xử thích
hợp cho các loại hình dịch vụ khác nhau. Thông thường, trong môi trường mạng
MPLS VPN; các thiết bị biên mạng là các PE router sẽ phải phân loại lưu lượng
nhận được từ các khách hàng khác nhau và thiết lập các lớp dịch vụ trong gói tin
IP. Lớp lõi sẽ có nhiệm vụ đưa ra các cách đối xử QoS khách nhau dựa trên thiết
lập các lớp dịch vụ này.
3.1.5. Vai trò QoS tại mỗi thiết bị trong mạng TSLCD
Mạng MPLS của TSLCD có thể cung cấp nhiểu loại dịch vụ khác nhau. Khi lưu
lượng IP tại thời điểm nào đó quá lớn, gây ra tắc nghẽn tại các kết nối (link) thì tại mỗi
router sẽ đệm dữ liệu đầu ra trên mỗi kết nối cho tới khi hết tắc nghẽn. Nếu QoS không
được cấu hình trong mạng thì các gói tin có thể bị loại bỏ khi bộ đệm bị đầy.
 Các thiết bị biên
Các thiết bị biên có nhiệm vụ kiểm tra loại dịch vụ trong tiêu đề các gói tin IP đến từ
các khách hàng trong mạng như kiểu dịch vụ telnet, SAP, FTP,..và các đích đến của lưu
lượng. Các gói cũng có thể được phân loại tùy theo cơ chế thiết lập. Ví dụ nếu đặt lưu
lượng telnet ở mức “high” điều này có nghĩa lưu lượng kiểu telnet có độ ưu tiên cao hơn
so với các lưu lượng khác.
Các thiết bị biên cũng có thể quản lý băng thông đầu vào trên mỗi giao diện và
cung cấp các hàng đợi tương ứng cho đầu ra tới mạng core. Điều này giúp cho các thiết bị
biên đảm bảo luồng dịch vụ trong mạng không ảnh hưởng tới các luồng khác. Điều này
yêu cầu khả năng xử lý tập trung của CPU.
 Thiết bị core
Các thiết bị tại core sẽ tiến hành thực hiện các mức QoS được gán tại thiết bị biên.
Core router thực hiện bằng cách liên kết các trường CoS (hoặc Experimental) trong tiêu
đề nhãn với đầu ra các hàng đợi.

Hình 3.5: Vai trò QoS tại mỗi thiết bị trong mạng TSLCD.
 Chuyển mạch lõi (Core 7613): Làm nhiệm vụ xếp hàng đợi, lập lịch chuyển gói,
chống tắc nghẽn.
 Lớp tổng hợp (Aggreator): Làm nhiệm vụ xếp hàng đợi, lập lịch chuyển gói,
chống tắc nghẽn.
 Lớp truy nhập (Access 7606):
o Với các port đầu vào (ingress port): Làm nhiệm vụ phân loại, đánh dấu, áp
dụng các chính sách:
o Với các port đầu ra (egress port): Làm nhiệm vụ xếp hàng đợi.
3.1.6. Phân loại các lớp lưu lượng trong mạng TSLCD
- Lớp lưu lượng điều khiển giao thức báo hiệu (SP)
+ Trễ thấp, phần trăm mất gói thấp
+ Router đảm bảo truyền dẫn bằng hàng đợi CBWFQ với phương pháp WRED
+ Switch: đảm bảo truyền dẫn trong WRR với phương pháp WRED
+ Lớp lưu lượng này chỉ được dành riêng cho lưu lượng điều khiển SP.
- Lớp lưu lượng mang tính thời gian thực :
+ Độ trễ thấp, tỷ lệ mất gói thấp, jitter thấp
+ Đảm bảo băng thông tối thiểu
+ Router: dùng hàng đợi có độ trễ nhỏ
+ Switch: dùng hàng đợi ưu tiên
+ Lớp này được sử dụng rành riêng cho lưu lượng kiểu voice
- Lớp lưu lượng data :
+ Độ mất gói thấp
+ Router: hàng đợi CBWFQ với phương pháp WRED
+ Switch: Dùng trong WRR với phương pháp WRED
+ Lớp lưu lượng này được sử dụng cho 2 loại lưu lượng với cùng yêu cầu: lưu
lượng của khác hàng có độ ưu tiên cao và lưu lưọng điều khiển.
- Lớp lưu lượng VoD/Video
+ Độ trễ thấp, tỷ lệ mất gói thấp
+ Router: Dùng CBWRQ với phương pháp WRED
+ Switch: Dùng trong WRR với phương pháp WRED
+ Lưu lượng luồng video.
- Lớp dịch vụ best-effort :
+ Không đảm bảo
+ Router: Dùng trong CBWFQ , phương pháp WRED loại bỏ đuôi
+ Các lưu lượng còn lại đều thuộc lớp lưu lượng best – effort: như lưu lượng
internet.
3.1.7. Cơ chế thực hiện QoS
Trong mạng TSL, QoS được thực hiện để quản lý lưu lượng giữa 3 core router sử
dụng giao tiếp STM4.
 Phân loại, dánh dấu nhóm dịch vụ: Router sẽ phân loại các gói tin thành từng
lớp (Class) khác nhau dựa trên trường IP Precedence và MPLS Experimental của
gói tin khi đi vào Router. Các lớp được phân loại gồm:
o Realtime: Dành cho các ứng dụng thoại cần xử lý thời gian thực, độ trễ là
mất gói thấp. Các gói tin loại này được phân lớp dựa trên giá trị IP Prec =5
và MPLS Exp=5
o Data-High: Dành cho các dữ liệu có độ ưu tiên cao được truyền trong
mạng. Các gói tin này được phân lớp dựa trên giá trị IP_Prec=4 và
MPLS_Exp=4.
o Controll: Dành cho các thông tin điều khiển trong mạng. Các gói tin này
được phân lớp dựa trên giá trị IP_Prec=6, MPLS_Exp=6.
o Data_Low: Dành cho các dữ liệu có độ ưu tiên thấp. Các gói tin này được
phân lớp dựa trên giá trị IP_Prec=3, MPLS_Exp=3.
o Video: Dành cho các dữ liệu video. Các gói tin này được phân loại dựa
trên giá trị IP_Prec=1,2 ; MPLS_Exp=1,2.
 Định nghĩa chính sách cho từng lớp dữ liệu: Các dữ liệu sau khi có được phân
loại sẽ được định nghĩa các chính sách tương ứng theo độ ưu tiên của từng loại dữ
liệu. Chính sách được sử dụng trong mạng TSL là WRED và Priority Quece.
o Lớp Realtime với yêu cầu cao về độ trễ nhỏ và không drop gói tin nên sẽ
được đưa vào hàng đợi ưu tiên (Priority Quece). Như vậy Router sẽ không
drop gói tin khi xảy ra hiện tượng nghẽn trong mạng.
o Các lớp còn lại sẽ được áp dụng kỹ thuật WRED nhằm dự đoán trước tắc
nghẽn và loại bỏ các gói tin có độ ưu tiên thấp khi xảy ra tắc nghẽn.
 Áp dụng QoS lên Interface STM-4: Việc áp dụng chính sách QoS sẽ được thực
hiện trên chiều ra của các interface STM-4 tại mỗi Core.
3.2.3.1. Các thông số cấu hình QoS
Các thông số cấu hình gồm: băng thông dành riêng và giới hạn hàng đợi cho các lớp
lưu lượng.
 Băng thông dành riêng cho từng loại lưu lượng được xác định trong bảng sau:
Bảng 3.1: Băng thông dành riêng cho từng loại lưu lượng
Lớp Giá trị % Băng thông
Precedence
Control 6 2%
Realtime 5 13%
Data–High 4 40%
Data-Low 3 25%
VoD / Video 2 10%
1
Best effort 0 10%
 Giới hạn hàng đợi cho các lớp lưu lượng: Dựa vào công thức tính giới hạn hàng
đợi, ta có thông số giới hạn hàng đợi sau:
Bảng 3.2: Giới hạn hàng đợi cho từng loại lưu lượng.
Lớp Giá trị Độ trễ min Giới hạn Độ trễ Giới hạn max
Precedence (ms) min max (ms) (packets)
(packets)
Controll 6 70 3423 100 4890
Data–High 4 70 3423 100 4890
Data-Low 3 70 3423 100 4890
VoD / Video 2 70 3423 100 4890
1 50 2445 80 3894
Best effort 0 50 2445 70 3423

3.2.3.2. Cấu hình QoS trong các thiết bị


Thiết kế QoS trong core router :
Khi chuyển trao đổi các nhãn, thiết bị catergy 6500/7600 duy trì giá trị EXP tại các
nhãn mới nhất và copy giá trị EXP cho các nhãn đầu ra. Thiết bị 6500/7600 gán CoS đầu
ra bằng cách sử dụng bảng DSCP – CoS.
Card LAN trên 6500/7600 sử dụng các hàng đợi cố định và các cổng WAN sử dụng
hàng đợi CBWFQ. Các card WS-X6408A-GBIC có ít hàng đợi hơn, chỉ gồm 1 hàng đợi
ưu tiên và 2 hàng đợi thường với 2 ngưỡng. CoS được gán cho card WS-X6724-SPF,
WS-X6408A-GBIC và hàng đợi CBWFQ được sử dụng cho card SIP/SPA
Bảng 3.3: Các loại hàng đợi và mức ngưỡng cho từng lớp dịch vụ.

WS-X6724-SFP và WS-X6148A-GE-TX
Card WS-X6724-SFP và WS-X6148A-GE-TX hỗ trợ 1 hàng đợi ưu tiên và 3 hàng
đợi thường. Do đó chúng ta phải đặt lưu lượng có giá trị CoS là 6 cho hàng đợi số 3. Một
tùy chọn khác là sử dụng hàng đợi ưu tiên cho lưu lượng với giá trị CoS bằng 6. Tuy
nhiên giá trị này có thể khiến giao thức định tuyến update các gói lớn và gây trễ trong
mạng VoIP.
Cấu hình cho thiết bị WS-X6724-SFP và WS-X6148A-GE-TX :
- Gán mỗi giá trị CoS vào đúng hàng đợi và mức ngưỡng trong hàng đợi.
- Gán phần trăm băng thông cho mỗi hàng đợi
- Gán trọng số cho mỗi hàng đợi. Thông thường nếu băng thông cho mỗi hàng đợi
càng thấp thì yêu cầu không gian bộ đệm càng lớn
- Gán giá trị tail-drop cho mỗi ngưỡng hàng đợi
- Gán giá trị WRED – drop lớn nhất và nhỏ nhất cho mỗi ngưỡng hàng đợi
Card SUP720-3B và WS-X6408A-GBIC
Cổng GE trên card SUP720 chỉ hỗ trợ 1 hàng đợi ưu tiên, 2 hàng đợi thông thường
với 2 ngưỡng. Các cổng loại này chỉ có các ngưỡng WRED-drop trên các hàng đợi đầu
vào. Để hỗ trợ các lớp lưu lượng yêu cầu, cần nhiều giá trị CoS trong cùng hàng đợi, tại
cùng mức ngưỡng. Do đó thường không đặt QoS trên các cổng GE cho các lớp lưu lượng
trong mạng TSLCD.
Cổng SIP/SPA WAN
Các cổng SIP/SPA WAN hỗ trợ các kiểu hàng đợi LLQ, CBWFQ, WRED. Tuy
nhiên để WRED hoạt động hiệu quả, thì hàng đợi được tính toán :
Queue limit = (bandwith / (MTU * 8)) * 100ms
Queue limit : xác định số lượng các gói tin được xếp hàng theo yêu cầu đặt trước.
Mỗi lớp lưu lượng CBWFQ hoặc LLQ được cấu hình bằng lệnh bandwith và
bandwith percent. Tổng tất cả băng thông cấu hình của các lớp dịch vụ không được lớn
hơn băng thông dành riêng tối đa.
Theo default, card SIP 200 sẽ dành riêng 75% băng thông giao diện cho hàng đợi
CBWFQ. Có thể thay đổi giá trị này bằng các lệnh.
 Thiết kế QoS tại thiết bị biên mạng TSLCD
Mỗi vùng differv của khách hàng và của mạng TSLCD sẽ được giữ riêng biệt. Điều
này cho phép các chính sách QoS có hiệu lực trong khi các thông tin của khách hàng vẫn
được truyền trong suốt và đảm bảo qua mạng của TSLCD. Các chính sách QoS được
thực hiện tại core. Việc phân loại dựa trên các giá trị MPLS EXP tại mỗi giao diện PE
đầu ra nối với khách hàng, và việc phân loại này dựa trên tiêu đề gói tin IP ban đầu chứ
không phải tiêu đề MPLS. Mạng TSLCD sẽ đánh dấu các gói dựa trên các dịch vụ được
định nghĩa tại đầu vào và đầu ra, các router PE sẽ sử dụng các giá trị DSCP của các gói
tin phía khách hàng để xếp vào hàng đợi.
Các gói tin sẽ được đánh dấu rõ ràng tại PE đầu vào để giữ cho 2 miền diffserv riêng
biệt. Để thực hiện đánh dấu các gói tin trên router 7600, các cổng trên 6504 luôn được đặt
ở mode “untrust”.
3.2. Đo kiểm và đánh giá chất lượng mạng
3.2.1. Nội dung, phương pháp thực hiện phép đo
3.2.1.1. Nội dung
Thực hiện phép các phép đo để kiểm tra tính kết nối và đánh giá độ trễ trong mạng,
đo throughput và các thông số QoS trong mạng.
- Delay
- Lost ping
- Lost ping %
- TTL
- Jitter
3.2.1.2. Phương pháp thực hiện :
Tiến hành phép đo QoS cho lớp dịch vụ videoconferencing.
Mô hình kết nối dịch vụ hội nghị truyền hình của mạng TSLCD :
Hình 3.6: Mô hình kết nối dịch vụ videoconferencing.
Tiến hành đo kiểm :
Phép đo được thực hiện trực tiếp trên thiết bị core Router Cisco 7613 tại core Hà
Nội và trên Access Router 7606 của Cisco đặt tại các POP tỉnh. Tiến hành phát lưu lượng
theo các kích thước khác nhau và các kiểu phát khác nhau:
- Constant (đều, không đổi)
- Ramped (tăng dần đều)
- Bursty (xuất hiện đột ngột từng khối lớn)
3.2.2. Kết quả đo
Tiến hành đo kết nối mạng tới PE ở Hải Phòng.
Kiểm tra kết nối và đánh giá trễ mạng ở Layer 3 :
Thực hiện kiểm tra với các loại gói tin khác nhau có độ lớn từ 64 byte tới 1500 byte,
trong vòng 5 phút thấy tỉ lệ mất gói 0% đối với các chặng, độ trễ phụ thuộc vào kích
thước gói tin.
Bảng 3.4: logfile cho các gói kích thước 64 byte
***********************************
[Port 1 Ping Results]
Ping Req Tx 292
Ping Resp Rx 292
Ping Req Rx 347
Ping Resp Tx 347
Lost Pings 0
Lost Pings % 0
Delay (ms) 3
Delay, Avg (ms) 3
Delay, Min (ms) 3
Delay, Max (ms) 8
***********************************
Bảng 3.5: log file cho các gói kích thước 1500 byte.
***********************************
[Port 1 Ping Results]
Ping Req Tx 355
Ping Resp Rx 355
Ping Req Rx 377
Ping Resp Tx 377
Lost Pings 0
Lost Pings % 0
Delay (ms) 7
Delay, Avg (ms) 7
Delay, Min (ms) 7
Delay, Max (ms) 21
************************************
Nhận thấy với các gói có kích thước lớn hơn thì độ trễ, thời gian request cũng lớn
hơn. Chất lượng đường truyền tốt, không có hiện tượng mất gói tin.
- Đo throughput và độ trễ :
Tiến hành mô phỏng throughput là 100 Mbps, 150 Mbps, và 170 Mbps. Kết quả cho
thấy, với throughput là 100 M và 150 M, không thấy xảy ra hiện tượng mất gói tin do
đường truyền tới PE Hải Phòng là đường STM1. Đối với throughput là 170 M có hiện
tượng mất gói tin
Tuy nhiên, do được cấu hình QoS trên Access Router ưu tiên lớp dịch vụ video
conferencing nên khi xảy ra tắc nghẽn do lưu lượng vào quá lớn, nó sẽ ưu tiên truyền lưu
lượng thuộc lớp dịch vụ đó và loại bỏ bớt các gói tin thuộc lớp dịch vụ khác.
3.3. Tổng kết chương
Chương 3 giới thiệu tổng quan về kiến trúc thực tế mạng truyền số liệu chuyên dùng
của các cơ quan Đảng và Nhà nước, cách thiết lập QoS trong mạng. Với các thiết bị khác
nhau, các kiểu dịch vụ khác nhau (voice, data, video,…) ta sẽ cấu hình các thông số QoS
khác nhau. Bên cạnh đó chương này còn đưa ra các phương pháp, kết quả đo kiểm để
đánh giá băng thông, độ trễ, độ tin cậy của mạng.
KẾT LUẬN
Chất lượng dịch vụ chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy sự
phát triển của ngành công nghệ viễn thông. Giải pháp chuyển mạch nhãn đa giao thức là
một kỹ thuật mạng mới với mục tiêu kết hợp tính mềm dẻo của công nghệ IP và ATM.
Với những ưu điểm trên, công nghệ MPLS - VPN đã đáp ứng được nhu cầu của thị
trường, mang lại lợi ích thiết thực, đánh dấu sự phát triển của Internet trước xu thế tích
hợp công nghệ thông tin và viễn thông trong thời kỳ mới. Sau một thời gian tìm hiểu, bản
luận văn đã tổng kết được một số vấn đề sau:
 Các khái niệm về nghệ MPLS, hoạt động của mạng MPLS/VPN và những
ưu, nhược điểm.
 Những tập tính năng, tham số của chất lượng dịch vụ.
 Thiết kế QoS cho từng loại dịch vụ trong mạng MPLS/VPN
 Tiến hành đo kiểm chất lượng đường truyền trên thiết bị core router 7613 của
Cisco đặt tại Core Hà Nội, và thiết bị access router 7606 Cisco đặt tại Hải
Phòng để đánh giá chất lượng dịch vụ videoconferencing sử dụng trong mạng
truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước.
Việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng được các yêu cầu của
khách hàng vẫn luôn là động lực và mục đích của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông.
Sử dụng các dịch vụ có chất lượng cao không chỉ là mong muốn của khách hàng, mà còn
là trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ. Do đó, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông
luôn phải nghiên cứu, tìm ra các giải pháp tốt nhất để đáp ứng được yêu cầu đó.
Vì thời gian có hạn, kiến thức còn hạn chế nên bản luận văn không tránh khỏi nhiều
thiếu sót mong được các thầy cô chỉ bảo.
Em xin trân trọng cảm ơn !