Está en la página 1de 2

Phương pháp FDM (Fused Deposition Manufacturing) dùng vật liệu dạng dây dễ chảy, ví

dụ nhựa ABS. Như mô tả trên hình 4, sợi dây qua đầu gia nhiệt sẽ hoá dẻo và được trải
lên mặt nền theo đúng biên dạng mặt cắt của mẫu, theo từng lớp có chiều dày bằng chiều
dày lớp cắt. Nhựa dẻo sẽ liên kết theo từng lớp cho đến khi tạo xong mẫu.

Hình 2

Trên đây giới thiệu một số phương pháp điển hình trong công nghệ tạo mẫu nhanh sử
dụng các dạng vật liệu khác nhau (lỏng, bột, tấm, dây) với những đặc tính khác nhau. Cái
chung là đều xử lý qua từng lớp một. Các việc cắt lớp, tạo lớp và đo lớp đều không đơn
giản và có ảnh hưởng lớn đến độ chính xác tạo hình. Vì thế đòi hỏi thiết bị phải có độ
chính xác cao, nên rất đắt tiền. Ngoài ra cần có chương trình phần mềm đủ mạnh, ví dụ,
để xử lý ngay thông tin cập nhật về độ dày của lớp vật liệu vừa tạo ra và sau khi co ngót
so với độ dày danh nghĩa khi phân lớp trên máy tính. Thuận tiện hơn là kiểm tra định kỳ
độ cao của vật thể sau khi hoàn thành thao tác được một số lớp vật liệu.
Mặc dù ngành công nghiệp tạo mẫu nhanh (RP) đã nổi bật trong vài thập kỉ qua,
nhưng phát triển RP gần đây hơn là ứng dụng sản xuất số trực tiếp (DDM). Do các chi
tiết đang được phát triển có độ phức tạp ngày càng cao, có khả năng DDM sẽ thay
đổi xu hướng sản xuất.

Một ngành công nghiệp sơ khai

Đến giữa những năm 1980, các quá trình tạo mẫu đã trở nên thông dụng hơn khi các viện sĩ và
công nhân đã thử nghiệm các mẫu chế tạo sử dụng các vật liệu thô sơ. Và vì vậy, ngành công
nghiệp RP đã ra đời với các nguyên mẫu đang được phát triển hàng giờ. Tiềm năng để về một
chu kì phát triển sản phẩm ngắn hơn với chi phí thấp hơn đã trở thành hiện thực.

Khi các ngành công nghiệp vẫn đang ở giai đoạn đầu, sẽ xuất hiện những vấn đề nhỏ. Các
nguyên mẫu đầu tiên được sản xuất ra là khá đắt đỏ, vật liệu không phải là tốt nhất và tốc độ
chế tạo còn chậm. Các máy ban đầu này cũng đắt ghê gớm và khó sử dụng.

May thay, ngành công nghiệp cũng có những “chiến sĩ”. Các công ty sản xuất và nhà thiết kế
có thể tìm thấy tiềm năng to lớn. Họ có thể dự tính được cách thức RP có thể giúp họ tránh được
những thiếu sót, chứng minh những giả thuyết là đúng và đưa các khái niệm ra thị trường một
cách nhanh chóng.

Tăng tốc độ phát triển

Đầu những năm 1990, người sử dụng RP đã nhận thức rõ hơn về nhu cầu của họ. Chỉ trong một
vài năm, tốc độ và độ chính xác của máy móc và vật liệu đều tăng lên. Các nhà cung cấp đã
vượt quá mọi mong đợi và các phòng dịch vụ được mở rộng, mua máy móc để đem lại cho
khách hàng độ chính xác và các dịch vụ hỗ trợ.

Gần thiên niên kỷ, những chiếc máy RP đầu tiên đã được phát triển cho các ứng dụng chuyên
dụng. Thay vì những chiếc máy đơn giản thời kì đầu, các nhà phát triển tập trung vào những
ứng dụng phù hợp và nhu cầu cụ thể của những thị trường ngành dọc, như công nghiệp ô tô và
hàng không.

Ngày nay, ngành công nghiệp RP đã có mặt trên phạm vi toàn cầu. Cả châu Âu và Nhật Bản
đều có các đối thủ tầm cỡ. Cả Đức và Nhật đều hưởng lợi từ những chương trình lớn trong nước.
Họ đã tạo ra một cơ sở hạ tầng chiến lược, góp phần quan trọng vào nền kinh tế của đất nước.
Cùng với những nước khác ở châu Âu, Đức và Nhật vẫn là những đối thủ quan trọng trong công